Cây tre và cái Đình là những đặc biệt trong văn hoá Việt, nơi đó biểu hiện tâm hồn Việt và cũng biểu lộ những gía trị khác nhau của đời sống. Tìm hiểu nguồn cội văn hoá, để thấy những gì đã tốt và những gì chưa được,ngõ hầu làm cho văn hoá Việt mỗi ngày sáng trong hơn, trẻ trung hơn và có tính thuyết phục hơn.

Luỹ tre - Khóm trúc - Tiếng sáo.

Luỹ tre đầu làng vừa phân cách làng này với làng nọ vừa biểu thị một tính cách độc lập giữa làng này với làng kia. Xét về từ ngữ: Luỹ có ý chỉ thành luỹ, người Trung Hoa đắp Vạn Lý Trường Thành để bảo vệ khỏi ngoại xâm, người Việt thì có luỹ tre. Luỹ tre thì không trèo qua được, cũng không lách hoặc chui qua được vì có loài tre gai, không đào hầm xuyên qua được vì vướng rễ, đốt không cháy. Luỹ tre bao quanh làng như một đồn luỹ. Muốn vào làng phải qua cổng làng.

Luỹ tre có nhiều công dụng khác trong cuộc sống dân Việt, tre làm nhà ở, tre làm dụng cụ nông nghiệp, tre làm rổ, rá, sàng, nia, ghế, bàn giường… các vật dụng trong gia đình. Khi có giặc ngoại xâm thì tre làm vũ khí tầm vông, chông, đao…Khi yên bình thì có thể làm các thứ nhạc cụ: Trắc, đàn tre, sáo trúc…Nhiều công dụng phục vụ cho đới sống. Tre còn dùng làm thuyền, kết làm bè chuyên chở.

Cây tre còn biểu hiện tâm linh người Việt Nam, vươn cao và đổ rỗng thoát khỏi những ty tiện trần tục, vươn lên mà không đổ gẫy trước bão táp. Cuộc sống dân quê, sống nông nghiệp với mùa lúa nước, nghèo khó mà vẫn thanh thản, yên bình và sống đời sống thanh cao.

Tâm linh là như thế, tạo nên những mẫu người hiền lành và chất phác, chân chất như lòng tre đổ rỗng mà không hằn thù. Nói luỹ tre là thành luỹ của làng nhưng không thể nói làng này sống xa cách với làng kia. Trong những ngày hội làng có truyền thống rước giao hiếu giữa làng này với làng kia, những cuộc rước giao hảo nối những tình thân thương. Đã từng có những làng hợp lại cùng thờ chung vị thành hoàng, hoặc khi có giặc ngoại xâm làng này kết hợp với làng kia để tạo nên một sức mạnh. Tính chất cộng đồng của người Việt không bị mất đi bởi luỹ tre làng bao quanh.

Luỹ tre nói lên tính cách tự trị của người Việt. Cá nhân không mất hút trong cộng đồng, mỗi cá nhân đều là quan trọng. Như trong nhiều nhận xét của những người Phương Tây, người Việt trân trọng sự sống của từng cá nhân, dù thương tật hay khuyết tật, mọi người đều có một chỗ đứng ở trong làng. Xét về mặt cộng đồng trong làng thì: “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”, “tối lửa tắt đèn có nhau”, mỗi cá nhân đều được gắn kết khắng khít bằng tình làng nghĩa xóm. Điều này có thể thấy rõ khi họ tình cờ gặp nhau nơi làm ăn phương xa, tình đồng làng, đồng xóm trở nên mối tình keo sơn hơn hết.

Tính cách tự trị của luỹ tre còn nói đến một khía cạnh khác không kém phần quan trọng, đó là nhấn mạnh tới sự khác biệt, khác biệt giữa làng này với làng kia, mỗi làng đều chăm lo tốt cho làng của mình, độc lập tự giải quyết trong mỗi công việc của làng. Đây là một sắc thái rất hiện đại trong xã hội phát triển các nghành chuyên môn, nhất là trong lãnh vực công nghệ thông tin.

Điều quan trọng là tính điều phối giữa cá nhân và tập thể, giữa làng này với làng kia liên quan đến vận mệnh của một nước. Một cây tre thì mang tính đơn độc, nhưng là luỹ tre là mang tính cộng đồng.

Nhấn mạnh qúa đến cái riêng, tính độc lập và thái quá trong việc bảo tồn làng xã người ta thường rơi vào những thảm trạng:

Óc tư hữu - tính ích kỷ: “Bè ai người nấy chống”, “thân ai nấy giữ”, từ những tính cá nhân này dẫn đến việc chê bai những người làm việc chung “ăn cơm nhà đi vác ngà voi” hoặc “cha chung không ai khóc”, từ đó chỉ biết thu quén cho mình cho gia đình mình mà không biết hoặc quan tâm đến người khác. Người Việt Nam làm một mình thì rất giỏi, làm hai người thì tốt, làm ba người thì rối, càng nhiếu người làm càng kém và không hiệu quả.

Óc bè phái - địa phương: “Trống làng nào làng nấy đánh”, “thánh làng nào làng ấy thờ”, “một người làm quan cả họ được nhờ”. Về địa phương thì phân biệt Nam - Trung - Bắc, tạo nên những bè phái chống đối nhau, miền nào cũng có cái hay nhưng chẳng cái hay của miền này làm cho phong phú miền kia. Một trong những suy vi của đất nước là thế lực bè phái và địa phương này.

Óc gia trưởng - tôn ti: Tự bản chất của nó không phải là xấu, nhưng thường người làm lớn thì hay áp đặt, buộc người dưới vâng theo ngoan ngoãn như bầy cừu. Tính tôn ti, làm cho người dưới thiếu sáng kiến mà sống lâu lên lão làng, ngoài ra còn có những rào cản do chỉ cho mình là hay là giỏi rồi không chịu nghe ai, cứ theo ý mình mà quyết. Nếu là người gia trưởng mà như vậy là triệt tiêu tính sáng tạo trong từng cá nhân nơi gia đình và cũng giết chết tình yêu, cắt đứt đối thoại, cha không hiểu con, con chống lại cha. Sở dĩ, con cái trong gia đình không nghe lời cha, hãy thử xét lại mình xem, cách điều hành gia đình của mình có óc gia trưởng không?

Tính phê phán - bất mãn kinh niên: Tự hào về mình, tự cho mình là đúng, cho mình là người bảo vệ gia phong như luỹ tre làng, để rồi thấy ai cũng làm sai, ai cũng đáng lên án, thấy gì cũng khó chịu, đi đâu cũng tỏ sự bực bội của mình, không cộng tác với ai, nhưng bất cứ ai làm cũng gì mình cũng chê, cũng phê phán.

Trả lại dúng nghĩa cho luỹ tre của văn hoá, là trả lại cho đúng những gì cây tre đã giúp cho đới, cây tre biết hiệp thông để làm nên sức mạnh chống cái xấu, cần lắm cho những giá trị làm nên ý nghĩa cuộc đời.

Đình làng.

Vào làng quê, làng nào cũng có một Cái Đình. Cái Đình là nơi tập trung hành chánh, mọi người đến đây để giải quyết chuyện chung cũng như riêng tư. Cái Đình là nơi sưu thuế, nơi giam giữ phạm nhân, nơi hội họp cả làng, đàn bà cũng như con trẻ. Cái Đình là nơi tổ chức hội hè, đình đám, xem chèo tuồng, nơi diễn ra các hoạt động về văn hoá. Cái Đình còn là nơi thờ vị Thành Hoàng, nơi sinh hoạt tín ngưỡng. để xây cất Cái Đình, người ta phải chọn thế đất, chọn hướng đúng theo luật phong thuỷ. Đình được xem là biểu tượng phồn vinh của một làng, có thành đạt hay thất bại là do định mệnh của Đình chi phối.

Có người cho là Đình bắt nguồn từ Trung Hoa, không đúng như vậy, trước tiên Đình cũng như Nhà Rông, thời Hùng Vương dựng nước đã có chiếc Nhà Rông là căn nhà chung của cộng đồng rồi, điều này được minh chứng trên hoạ tiết của Trống Đồng.

Cái Đình biểu tượng cho tính cộng đồng của người Việt. tính cộng đồng làm nên mối tương quan đoàn kết, mật thiết với nhau: “tay đau ruột xót”, “chị ngã, em nâng”, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, do tính chung ấy làm nên tinh thần tập thể, hoà đồng vào cuộc sống chung, làm nên sức mạnh của cộng đồng “ba cây kết lại thành hòn núi cao”.

Mặt tiêu cực, tính chất đồng nhất cũng có phát sinh:

Vấn đề cá nhân dễ bị ăn hiếp hoặc chịu thiệt thòi “hoà cả làng”.

Thói dựa dẫm, ỷ lại: “nước trôi thì bèo trôi”, “cha chung không ai khóc”, cùng với thói dựa dẫm là thói cầu an, cả nể “bứt dây động rừng”.

Cào bằng và đố kỵ: Không muốn ai bằng mình nên dìm chết kẻ dưới, thích thói xu nịnh, thích cậy quyền, cậy thế, lúc tai biến thì thà: “chết một đống còn hơn sống một người”, cho nên ta thấy lỗi của cấp trên thường là đổ lỗi cho tập thể và lỗi của tập thể thì biết phạt ai, cho nên thường hoà cả làng là như vậy.

Người Trung Hoa vào Đất Việt thì cái Đình chịu sự biến tướng. Cái Đình trước kia dành cho cộng đồng, bất kể nam phụ lão ấu. Những người biết Nho không tới đâu, tinh thông một số tri thức rồi khăng khăng đòi thực hiện những lệ luật trọng nam khinh nữ vào, khe khắt với người khác. Cái Đình dần dà chỉ còn dành riêng cho nam giới, trở thành nơi kiếm chác miếng xôi thịt của địa vị, danh vọng, của giới đàn ông, nên người ta mới nói: “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”.

Các bậc hủ Nho áp đặt nhiều thứ luật lệ quá đáng, làm hư hết phong thái của người dân Việt vốn chất phác. Những hủ Nho biết Nho thì ít mà lên mày lên mặt, dạy gia giáo bao điều tai hại. Nhóm người biết ít thường khom lưng luồn cúi để được địa vị này, địa vị kia, đối với trên thì khúm núm, đối với dưới thì một bồ dao găm. Khi đã được địa vị trong làng, trong xã, hoặc do mua, hoặc do luồn cúi thì họ cậy quyền, cậy thế, xem thường phong tục tập quán để bày ra những trò nhuốc nha như: “cạo đầu bôi vôi” như “nam nữ thụ thụ bất thân”, xem thường nữ giới, đưa ra những luật lệ mua bán, gả ép, tảo hôn...

Phong trào bài Nho xuất hiện cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, khởi đi từ những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, lớn mạnh với phong trào Duy Tân, công kích quyết liệt để trả về cho Cái Đình đúng với bản chất của nó, nơi quy tụ nam phụ lão ấu. Tìm lại chỗ đứng cho Cái Đình như là một thành tích của việc bảo tồn nền văn hoá dân tộc.

Ngày nay, chỗ đứng của Cái Đình, là nơi hội hè, đình đám, gợi nhớ trong lòng người đi xa một nỗi nhớ hoài hương. Mỗi Ngôi Đình gợi nhớ một làng quê xưa, những người xưa rời xa làng quê có lúc bồi hồi ngấn lệ, xao động, mỗi khi gặp lại bóng dáng ngôi Đình trên những bức ảnh hoặc trên những công trình kiến trúc, để rồi lòng hoài thương nhớ: “Qua Đình ngả nón trông Đình, Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”.