CHÚA NHẬT 16B THƯỜNG NIÊN- ĐỂ TÔN GIÁO GÓP PHẦN.

Giả sử hôm nay tôi mời anh chị em học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, chắc anh chị em sẽ giật mình, trố mắt nhìn tôi, và tự hỏi, không biết hệ thần kinh của tôi có được ổn hay không. Xin anh chị em bình tĩnh : Người mời gọi anh chị em học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, không phải là tôi, nhưng là chính Đức Tổng Giám Mục chúng ta trong văn thư gửi linh mục, tu sĩ và giáo dân trong toàn giáo phận, thư đề ngày 2 tháng 7 năm 2003, tức là cách đây chưa tới ba tuần lễ, kèm theo bản góp ý chính ngài gửi các vị lãnh đạo cao cấp nhất của Quốc Hội, Đảng và Nhà Nước, và nhất là kèm theo sắc lệnh số 234 đề ngày 14-06-1955 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhưng những chuyện đó có ăn nhằm gì với Phụng vụ Lời Chúa ngày hôm nay, phải không anh chị em ? Vậy thì trước hết, chúng ta hãy đi vào nội dung của 3 bài đọc.

Lời Chúa trong Thánh Lễ

Trong bài đọc 1, sau khi hạch tội các mục tử làm cho đoàn chiên thất lạc và tan tác, Thiên Chúa hứa sẽ ban cho Dân Ngài một vị mục tử xuất thân từ dòng tộc Đa-vít. Trong bài đọc 2 thì thánh Phao-lô nói rõ : Đức Ki-tô đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tưởng ngăn cách là sự thù ghét,.... đã đến loan Tin Mừng bình an. Cả hai bài đều chuẩn bị chúng ta đón nhận bài Tin Mừng. Còn bài Tin Mừng thì cho thấy các Tông Đồ đang bao quanh Đức Giê-su, hăm hở kể cho Ngài nghe mọi việc các ông đã làm : Đức Giê-su nghe xong liền quyết định : thầy trò cùng nhau đi đến một nơi thanh vắng để nghỉ ngơi. Lý do là vì theo như tác giả Tin Mừng nói : Kẻ lui người tới quá đông, đến nỗi các ông không còn thì giờ ăn uống nữa. Thế nhưng, Tin Mừng nói : Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ khắp các thành, họ cùng nhau đi theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài. Thế rồi sao ? Tin Mừng kể tiếp : Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Anh chị em thấy đó : Chúa Giê-su và các môn đệ đã quyết định tránh quần chúng để nghỉ ngơi. Nhưng khi thấy người ta tìm đủ cách để đến với mình, thì Chúa Giê-su chạnh lòng thương. Trong Kinh Thánh chạnh lòng thương là một động từ rất mạnh diễn tả tâm tình của Thiên Chúa đối với con người. Để diễn tả nỗi lòng của Thiên Chúa đối với Dân Ngài, sách Hô-sê đặt trong miệng Chúa những lời sau đây : Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi. (Hs 11,8). Còn trong sách I-sai-a chúng ta đọc chẳng hạn :

Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình,

hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ?

Cho dù nó có quên đi nữa,

thì Ta, Ta cũng chẳng quên người bao giờ.
(Is 49,14-15)

Tôi trích dẫn mấy câu Sách Thánh trên đây để giúp anh chị em hiểu điều tác giả Tin Mừng muốn nói khi ông viết : thấy đám đông dân chúng thì Đức Giê-su chạnh lòng thương. Thế rồi sao. Tác giả Tin Mừng viết tiếp : Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều. Và bài Tin Mừng chấm dứt ở đây. Thay vì đi vào chi tiết để nói với chúng ta rằng hôm đó Đức Giê-su nói với dân chúng những gì, thì Mác-cô như một nhà đạo diễn, chỉa ống kính vào Đức Giê-su và dừng lại đó, để mời mọi người hướng về Đức Giê-su như môn đệ hướng mắt lên thầy mình. Như thế, dưới ánh sáng của hai bài đọc, và nhất là dưới ngòi bút của Mác-cô, Đức Giê-su xuất hiện như một vị mục tử hy sinh tính mạng vì đoàn chiên, một ngôn sứ đến loan Tin Mừng bình an, một Thiên Chúa giàu lòng thương xót, và đặt biệt hơn nữa, một bậc thầy giáo dục dân chúng.

Lời Chúa với chúng ta hôm nay

Đối diện với quần chúng như đoàn chiên không người chăn dắt, Đức Giê-su không xua đuổi, cũng chẳng tránh né, nhưng chấp nhận đối diện với họ để tỏ bày lòng thương cảm. Chúa an ủi những người cần được ủi an, soi sáng cho những ai biết mình u mê tăm tối. Và sứ mạng của Hội Thánh là tiếp nối công trình cứu độ của Chúa Giê-su.

Đoàn chiên không người chăn dắt trong bài Tin Mừng không thể không làm chúng ta liên tưởng đến con người, đến xã hội, đến môi trường chúng ta đang sống. Tham nhũng, hối lộ, ăn cấp của công.... là chuyện cơm bữa. Ông chống ma tuý thì đi buôn ma tuý, ông chống tội phạm thì tiếp tay cho tội phạm, thay vì học làm người thì học làm con vẹt, chuyện cơm tù chưa xong lại đến chuyện xe cướp, hết nạn yếu sinh lý, thì đến nạn khoan cắt bê tông, v.v. Bao chí nêu ra mặt nổi của tảng băng, nhưng người ta chưa đi đến tận gốc rễ của vấn đề. Hình như chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tách và tổng hợp các vấn đề xã hội như lá thử ngỏ Hội Đồng Giám Mục Việt Nam gửi cho các cơ quan lập pháp của Nhà Nước mà tôi đã đọc một phần quan trọng cho anh chị em nghe cách đây mấy tháng tại chính nhà thờ này.

Vậy thì đối diện với các vấn đề xã hội, Hội Thánh phải làm gì để bày tỏ lòng thương cảm theo gương Chúa Giê-su ? Nói cách khác Hội Thánh có thể và phải làm gì để đóng góp vào việc xây dựng con người và xã hội trên đất nước chúng ta ? Nhưng một khi đặt vấn đề vai trò của Giáo Hội thì chúng ta gặp một vấn đề khác, căn bản hơn, đó là vấn đề tự do tôn giáo. Tôi chỉ nêu lên một ví dụ. Mùa này là mùa thi cử : nạn phao, nạn bằng giả, nạn thi thuê, thậm chí nạn đánh thầy cô, đánh giám thị coi thi.... cho thấy trong lãnh vực giáo dục, chúng ta đang phải đối mặt với những vấn đề khủng khiếp như thế nào. Phải chi hôm nay chúng ta có những trường Bồ-đề, những trường Tư thục Công Giáo, những đại học Vạn Hạnh, những đại học Công Giáo Đà-lạt, v.v.... chắc chắn các tôn giáo đã có phần đóng góp đáng kể vào sự nghiệp giáo dục, tức là chuẩn bị lớp người cho tương lai đất nước, cho tương lai dân tộc.

Thế nhưng hoạt động của các tôn giáo rất giới hạn. Một Giáo Hội Công Giáo Việt Nam với trên dưới 6 triệu tín đồ, phải mất nhiều năm chờ đợi mới ra được một tờ nội san 2 tháng 1 lần, kể từ tháng 7 năm 2001. Khổ giấy được ấn định là A4, tức là 21 x 29,7 cm, số trang tối đa là 50, và số lượng ấn bản tối đa là 100. 100 số báo cho 6 triệu người, nghĩa là 1 số cho 60 000 người. Nội bấy nhiêu chi tiết cũng đủ cho người tín hữu thấm thía như thế nào là tự do tôn giáo.

Nay chính quyền đang chuẩn bị ra Pháp lệnh về Tôn giáo. Các bản dự thảo đã được gửi đi để tham khảo ý kiến, và các thư trả lời phải được gửi về cho Quốc Hội hạn chót là ngày 7 tháng 7 đã qua. Và đúng 5 ngày trước khi hết hạn, Đức Tổng Giám Mục chúng ta đã gửi các văn thư tôi nói lúc nãy.

Vấn đề là trong thời gian gần đây, chúng ta nghe nói khá nhiều đến tư tưởng Hồ Chí Minh, và các giới đồng bào được kêu gọi học tập tư tưởng đó. Xin thú thật với anh chị em, đây là lần đầu tiên tôi đọc Sắc lệnh về Tôn giáo ra đời ngày 14-06-1955 nghĩa là cách đây gần nửa thế kỷ. Càng đọc, tôi càng ngạc nhiên và phấn khởi, khi thấy 50 năm về trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có một đường lối vô cùng cởi mở đối với Tôn giáo. Qua Sắc lệnh đó, ta thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương :tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng cũng như tự do không tín ngưỡng,

* Tôn trọng việc nội bộ của các tổ chức Tôn giáo,

* Tôn trọng tài sản của các tổ chức Tôn giáo,

* Tôn trọng các sinh hoạt và sự tham gia của các tổ chức Tôn giáo vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Trong tài liệu gửi đến tất cả các thành phần Dân Chúa trong Giáo phận, Đức Tổng Giám Mục chúng ta không chỉ cho biết ý kiến riêng của ngài, nhưng ngài còn cho biết ý kiến của một cán bộ cao cấp của Nhà Nước, đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Quang Hưng, thuộc viện Nghiên cứu Tôn giáo. Trong tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3 năm 2002, giáo sư tiến sĩ Đỗ Quang Hưng là tác giả bài Hồ Chí Minhnền tảng luật pháp ở nước ta. Trong bài đó, tác giả khẳng định : Sắc lệnh 234 của Hồ Chủ tịch “là văn bản có tính luật pháp tiêu biểu và hoàn chỉnh nhất cho những cống hiến quan trọng của Hồ Chí Minh trên chặng đường đầu tiên xây dựng luật pháp tôn giáo ở Việt Nam” (bđd. trg 7), và rằng Sắc lệnh nói trên “của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhiều điều khoản phong phú, hệ thống, liên quan đến các hoạt động tôn giáo, lần đầu tiên phản ánh rõ quan điểm, thái độ của Nhà Nước ta trong việc thể chế hoá chính sách tự do tôn giáo của mình, đồng thời cũng đã bộc lộ những tư tưởng nhân văn, có tình có lí, giải quyết vấn đề tôn giáo theo cung cách Việt Nam.” (nt. Trg.11). Cuối cùng, tác giả đề nghị : “Hôm nay, hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải ‘tìm đến ngọn nguồn’ cho bước đi kế tiếp.” (trg.12).

Kính thưa anh chị em,

Chắc chắn không phải chỉ có Đức Tổng Giám Mục chúng ta, nhưng tất cả chúng ta đều nhất trí với nhận định của giáo sư tiến sĩ Đỗ Quang Hưng liên quan đến chính sách Tôn giáo được thể hiện trong Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vậy thì người tín hữu Công Giáo cũng như tất cả mọi người Việt Nam có tín ngưỡng, có quyền chờ đợi một Pháp lệnh về Tôn giáo trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, để hai chữ tự do có nghĩa thực sự là tự do, chứ không phải chỉ là tự do xin phép.

Hôm nay tôi nói hơi nhiều về tự do Tôn giáo, và hẳn anh chị em đang tự hỏi tại sao. Thưa vì đây là vấn đề thời sự. Trong một tương lai gần, Pháp lệnh về Tôn giáo sẽ được ban hành. Cho nên chẳng phải ngẫu nhiên mà Đức Tổng Giám Mục chúng ta mời gọi chúng ta suy nghĩ và góp ý. Thêm vào đó, Lời Chúa hôm nay cũng mời gọi chúng ta : Để Chúa Giê-su hôm nay có điều kiện bày tỏ lòng thương cảm đối với bất cứ ai đến với Ngài, thì Hội Thánh của Ngài phải được tự do, phải thực sự có tự do Tôn giáo.

Để kết luận, tôi xin nói rõ với anh chị em : Tôi không vui thú gì khi nói những chuyện tôi vừa nói. Nhưng cũng như nhiều linh mục khác, đã hơn một lần than phiền rằng các vị giám mục của chúng ta sao làm thinh trước bao nhiêu vấn đề cần lên tiếng. Nay đến lúc các ngài lên tiếng, nếu linh mục chúng tôi lại làm thinh, thì hoá ra chúng tôi không biết mình muốn gì. Còn nếu như có ai thắc mắc vì có những người lên tiếng, thì tôi xin mượn lời Chúa Giê-su để trả lời : Chúng tôi mà thinh lặng, thì sỏi đá sẽ kêu lên.

Nhà thờ Phan-xi-cô Đa-kao, 20-07-2003