6. “NGƯỜI THÂN CẬN CỦA THẦY LÊ-VI

“Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi đến chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi ” (Lc 10, 32).
Sau thầy tư tế, là đến thầy Lê-vi cũng đi ngang qua chỗ người đồng hương đang bị nạn nằm bên vệ đường, nhưng rồi cũng bỏ đi một lèo. Các linh mục hôm nay, trong các bài giảng của mình thường “đồng hoá” các thầy Lê-vi thời cựu ước với các thầy (ngày nay) đã có “chức”, kể cả các thầy phó tế, hoặc các nam tu sĩ, bởi vì trong mười hai chi tộc Ít-ra-en, thì chi tộc Lê-vi đã được Đức Chúa chọn ra, riêng biệt để lo công việc bàn thánh, dưới quyền các tư tế (Ds 3, 5-13). Nhưng xét cho cùng, thì tất cả những ai đã dâng mình làm tôi tớ Chúa (đi tu) thì bất luận là nam hay nữ, cũng đều là những người phục vụ Thiên Chúa qua con người, phụ giúp các Linh mục theo bổn phận và công việc của mình. Vậy, theo tôi, các thầy Lê-vi bao gồm cả các nữ tu của chúng ta nữa, mà trong bài suy tư nầy sẽ dùng cụm từ “các-Lê-vi-thời-Tân-ước” để nói chung cho các tu sĩ nam nữ ấy.

Không phải ngẫu nhiên mà trong dụ ngôn “người Sa-ma-ri tốt lành”, Đức Chúa Giê-su đã đưa ra hai hình ảnh mà ấn tượng không mấy tốt đẹp về hai chức vụ có “thế giá” trong tôn giáo Ít-ra-en thời ấy, bởi vì chỉ có những thầy tư tế và các thầy Lê-vi là những người, mà có lẽ, rất ít tiếp xúc với mọi người trong cuộc sống đời thường, do đó, họ không thể cảm nghiệm được những lo âu khắc khoải, những tình cảm giữa người thân cận với nhau, hoặc họ không có ý niệm người thân cận là những người không cùng huyết thống với họ, mà đối với họ, người thân cận chính là cha mẹ, bà con, bạn bè thân thuộc …

Các Lê-vi-thời-tân-ước cũng có lúc, với ý niệm, mình là một người “đi tu”, “người được Chúa chọn”, thì phải được mọi người trọng vọng, phải được “đám dân ngu” kia kính nể và phải được ngồi chỗ cao, chỗ nhất giữa công chúng. Không ai tế nhị như Đức Chúa Giê-su khi đưa ra lời giáo huấn cho các Lê-vi-thời-Tân-ước hay nói cách thân mật hơn, các đệ tử của Ngài, bằng một câu chyện dụ ngôn rất kịch tính mà tóm gọn mọi giáo huấn của Ngài là yêu thương.

Vậy, ai là “người thân cận” của các Lê-vi-thời-tân-ước trong một xã hội quá phức tạp và có quá nhiều điều kỳ diệu hôm nay ?

a. Cộng đoàn của tôi là “người thân cận” của tôi.
Để tỏ ra sức mạnh đoàn kết của cộng đoàn, và để biểu dương cộng đoàn tôi là một cộng đoàn “luôn biết yêu thương”, nên có lúc các Lê-vi-thời-tân-ước đã ra mặt công khai bênh vực các thành viên của cộng đoàn mình, mặc dù lỗi phải đã rành rành trước mặt bàn dân thiên hạ, và lạm dụng sự kính trọng “những tôi tớ” Thiên Chúa nơi các tín hữu, mà các Lê-vi-thời-tân-ước đã làm ngơ trước những bất công của mình.

Mặc dù được gọi để phục vụ Thiên Chúa qua anh chị em của mình, nhưng có lúc các Lê-vi-thời-tân-ước đã không nhìn nhận họ là những “người thân cận” của mình, trái lại, các Lê-vi-thời-tân-ước nầy đã tự coi mình như là một “hồng ân” mà Thiên Chúa đã ban cho các tín hữu, cho nên từ cách suy nghĩ như thế, các Lê-vi-thời-tân-ước đã không nhìn thấy mình là những người được gọi để phục vụ Thiên Chúa trong những anh em đồng loại của mình, và dĩ nhiên, họ cũng chẳng thấy những khắc khoải, lo âu buồn phiền của những người mà mình được sai đến để phục vụ, vì những khuyết điểm do mình gây ra.

Cộng đoàn của tôi là “người thân cận” của tôi, đó là điều không ai chối cải, nhưng cộng đoàn sẽ không thể tồn tại, nếu không có những “người thân cận” –tức là con người- để phục vụ. Vì mục đích ấy mà cộng đoàn được thành lập và tồn tại, cho nên các Lê-vi-thời-tân-ước phải vượt qua khuôn khổ của cộng đoàn để đi tìm kiếm “người thân cận” của mình mà phục vụ. Thầy Lê-vi trong câu chuyện dụ ngôn đã không thể đưa tay ra cứu giúp người bị nạn, cũng bởi vì ông ta chỉ biết có chi tộc của mình, chỉ biết phải đi cho mau để phục vụ các tư tế nơi bàn thờ trong thánh điện, và vì thế mà ông ta đã đánh mất cơ hội phục vụ “người thân cận” của mình. Có những Lê-vi-thời-tân-ước đã to tiếng chỉ trích phê bình cộng đoàn nầy quá tệ, cộng đoàn kia quá bết, chỉ vì các cộng đoàn ấy không phải là cộng đoàn của tôi, tức là không phải “người thân cận” của tôi.

Bởi vì cộng đoàn của tôi là “người thân cận” của tôi, cho nên tôi không thể hỗ trợ cho người khác những phương tiện để họ làm công tác tông đồ, không ủng hộ những ý kiến hay, hoặc những phương pháp mới của người khác trong công việc mở mang Nước Chúa, vì thế, tôi mãi mãi vẫn chỉ là một thầy Lê-vi đi ngang qua người bị nạn, dù người bị nạn đó là đồng hương với tôi, giả mù như không thấy họ đang thoi thóp chờ chết. Bởi thế, để có tương quan tốt đẹp với mọi người, các Lê-vi-thời-tân-ước cần phải xác định lại cho thật rõ ràng mục đích dâng hiến cuộc đời của mình là phục vụ, nhưng phục vụ cho ai? cho Thiên Chúa nơi con người, hay bắt con người phục vụ cho chính bản thân mình ?

Nếu phục vụ cho cộng đoàn của tôi là “người thân cận” của tôi, thì các Lê-vi-thời-tân-ước chỉ là một tập đoàn chỉ biết tìm “lợi nhuận “ cho mình, có nghĩa là một tập đoàn tư bản mua bán không hơn không kém, nhưng xét cho cùng thì các tập đoàn tư bản mua bán ấy, họ cũng biết vượt ra khỏi chính mình, nghĩa là họ biết vươn cánh tay “mại bản” của họ đến tận các quốc gia trên thế giới để kiếm lợi nhuận, và tạo thêm công ăn việc làm cho mọi người, và như thế “người thân cận” của họ chính là những khách hàng của họ. Cũng vậy, các Lê-vi-thời-tân-ước không đóng khung trong cộng đoàn của mình, không khư khư giữ lấy những tập quán cố hữu “nó không phải là phe của chúng ta”, bởi vì khi làm như thế, thì các Lê-vi-thời-tân-ước đã vô tình bóp méo lề luật yêu thương của Tân Ước: “Yêu thương người thân cận như chính mình” (Lc 10, 27) vậy.

Luật yêu thương của Tân Ước phải vượt ra khỏi chính mình, tràn ra khỏi biên giới đi tới những miền xa xăm hẻo lánh, thấm nhập vào từng thớ thịt của con người, và được nhận thấy dễ dàng nơi hành vi của những con người thấm nhuần tinh thần lề luật yêu thương trong cuộc sống đời thường. Luật yêu thương cũng là “tiêu chuẩn” để Thiên Chúa phán xét nhân loại, là thước đo lòng mến của Thiên Chúa nơi con người chúng ta, nhưng nếu yêu thương hiểu theo nghĩa thường tình, tức là yêu thương theo luật tự nhiên, như cha mẹ yêu thương con cái, con cái phải yêu thương cha mẹ, yêu thương bạn bè thân thiết…v.v…thì chắc chắn không ai “qua mặt” được các thầy tư tế các thầy Lê-vi thời cựu ước, bởi vì họ đã tuân giữ răm rắp từng nét từng chữ trong sách luật, và nếu có ai đó nói với họ phải yêu thương “người thân cận”, tức là những người nghèo nàn, bất hạnh, khổ đau như chính mình, thì chẳng khác gì xách thùng nước lạnh tạt vào mặt họ. Nhưng các Lê-vi-thời-tân-ước không những đã nhận nơi Đức Chúa Ki-tô lệnh truyền yêu thương “người thân cận”, mà còn nhìn thấy công việc yêu thương “người thân cận” cách cụ thể nơi Ngài, đó là bất cứ ai cũng đều được Ngài chiếu cố mà không đòi điều kiện nào khác, ngoài điều kiện: phải có lòng tin vào Ngài, những người tàn tật, kẻ đui mù, người tội lỗi, kẻ bất hạnh đều là những “người thân cận” nhất của Ngài.

Vì vậy, yêu thương người thân cận nơi các Lê-vi-thời-tân-ước không có nghĩa là chỉ yêu thương cộng đoàn của tôi, bởi nó là thân cận của tôi, nhưng mỗi thành viên của cộng đoàn phải là những sứ giả của cộng đoàn, đem yêu thương được hấp thụ trong cộng đoàn đến cho những đối tượng mà các Lê-vi-thời-tân-ước phục vụ, họ là những người đủ mọi thành phần của xã hội không phân biệt màu da chủng tộc, giai cấp giàu nghèo, sang hèn, họ chính là những “người thân cận” của các Lê-vi-thời-tân-ước, hay nói cách cụ thể hơn, khi các Lê-vi-thời-tân-ước tự mình phá bỏ những luật lệ cứng nhắc làm xơ cứng quả tim bằng thịt biết yêu thương, biết thông cảm của mình, thì chính họ đã tự mình trở nên người thân cận của “người thân cận” rồi vậy.

Đức Chúa Giê-su đã chọn mười hai vị tông đồ để làm một cộng đoàn nhỏ xíu giữa những người Do thái, nhưng không phải vì thế mà cộng đoàn nhỏ xíu nầy bị lãng quên hoặc bị xoá sổ trong cộng đoàn Do thái to lớn ấy, nhưng trái lại, nó càng ngày càng “bành trướng” trên khắp mặt đất, trở thành một cây cổ thụ to lớn, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành cây của nó (Mt 13, 32), nó đã trở nên một cộng đoàn sống động, có ảnh hưởng rộng lớn trên toàn diện cuộc sống của con người, bởi vì vị thủ lãnh tối cao của cộng đoàn nầy –Đức Chúa Kitô- đã tuyên bố: “Vì Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mt 10, 40), và mỗi một thành viên của cộng đoàn nhỏ xíu mà to lớn nầy đã trở nên những người thân cận của mọi người, khi cầm chén nước lã ngon ngọt thân tình mời người anh em trong cơn đói khát (Mt 10, 42), bởi vì, họ đã nhìn thấy “người thân cận” đói rách, bất hạnh, nghèo nàn ấy, chính là hình ảnh của Đức Chúa Ki-tô đang bị đau khổ trên thập giá.

“Người thân cận” của các Lê-vi-thời-tân-ước không phải là người thân thiết, cũng không phải là bà con, bạn hữu, vì tự nó đã là thân thiết rồi. Nhưng “người thân cận” đúng nghĩa của các Lê-vi-thời-tân-ước chính là những người không thân thiết, không phải là bà con, bạn hữu, mà là những người xa lạ, những người bất đồng chính kiến với mình, bất đồng quan niệm và có khi –thậm chí- họ là những kẻ thù, nhưng trong tinh thần của luật mới –luật yêu thương- thì những người ấy chính là “người thân cận” của các Lê-vi-thời-tân-ước vậy.

Không ai có thể yêu thương “người thân cận” như chính mình được nếu không có Đức Chúa Thánh Thần thúc đẩy, bởi Thánh Thần là lửa tình yêu có khả năng đốt cháy những xiềng xích trói buộc, những bức tường ngăn cách giữa các Lê-vi-thời-tân-ước với “người thân cận”. Yêu thương “người thân cận” như chính mình, cũng chính là yêu thương Đức Chúa Ki-tô ở trong những con người mà những bất công của xã hội đang đè xuống trên cuộc đời của họ. Bởi vì khi giáng sinh làm người, Đức Chúa Giê-su đã thực sự là người thân cận của những “người thân cận” bị người đời bỏ rơi, khi chính Ngài cũng đã bị những kinh sư, biệt phái và những người thân cận trong thôn xóm cũng từ chối đón tiếp Ngài (Lc 4, 16-29).

Vì vậy, không một Lê-vi nào của thời Tân Ước có quyền chọn lựa cho mình người nầy là “người thân cận” của tôi, người kia không phải là “người thân cận” của tôi, nhưng ai cũng là “người thân cận” của mình, bởi vì chính họ là thước đo mức độ yêu thương của mình đối với Thiên Chúa trong cuộc sống đời thường vậy.

b. Cá nhân tôi là “người thân cận” của tôi.
Có nhiều người chú giải câu Lời Chúa “yêu thương người thân cận như chính mình” như sau: yêu người như chính mình là trước tiên phải yêu mình đã, yêu mình tức là phải thoả mãn những nhu cầu đòi hỏi của bản thân mình trước, sau khi mình có đầy đủ rồi mới cho người khác để họ có như chính mình đã có vậy. Đây đúng là mẫu người “biết lo xa”, nhưng vì quá lo xa cho nên họ mãi mãi vẫn không thể yêu thương người thân cận như chính mình được, bởi vì trong thực tế, lòng tham của con người như cái thùng không có đáy, không có thì làm cho có, có rồi thì muốn có thêm, và như thế thì đến bao giờ mới có đầy đủ để mà giúp đỡ người thân cận chứ ? Từ khi nguyên tổ chúng ta phạm tội, thì con người trở nên ích kỷ hơn, cái tôi (cá nhân tôi) phát triển nhiều hơn, và yêu mình nhiều hơn.

Bất kể là ai, đã là con người thì luôn luôn có cái tôi ở trong mình, và cái tôi nầy tự nó lớn lên hay nhỏ đi tuỳ theo mức độ yêu thương của chính bản thân mình. Yêu thương càng lớn thì cái tôi càng nhỏ, và dễ dàng đạt tới mức độ yêu thương “người thân cận” như chính mình hơn. Trong cộng đoàn, cái tôi làm cho chúng ta muốn nổi bật hơn mọi người, do đó, chúng ta tìm đủ mọi cách (kể cả thủ đoạn) để đạt tới mục đích của cá nhân tôi, mà không thèm nghĩ đến những khó khăn của anh em chị em là những người thân cận của mình, đang phấn đấu để cộng đoàn được trưởng thành. Để cái tôi của cá nhân tiến triển theo chiều hướng chung của cộng đoàn thì là một điều tốt, bởi vì đó chính là yêu thương anh chị em trong cộng đoàn vì họ là người thân cận của tôi, và cần phát huy tác dụng đến mức độ không còn là vì cá nhân tôi nữa, mà là vì cộng đoàn.

Bởi vì chúng ta nghĩ rằng cá nhân tôi là “người thân cận” của tôi, cho nên chúng ta luôn tìm cho mình những sự chú ý của mọi người giữa công chúng, tìm một tiếng khen của mọi người nơi phòng họp, tìm sự nổi tiếng khi công tác.v.v…mà chúng ta không nghĩ rằng, chính khi chúng ta đang tìm sự thoả mãn cá nhân ấy, thì chính chúng ta đang dần dần xa cách “người thân cận” đích thực của chúng ta là những anh chị em trong cộng đoàn. Chính vì điều ấy, mà Đức Chúa Giê-su khi nói về việc nên cớ vấp ngã cho anh em, Ngài đã nhấn mạnh đến hành động dứt khoát để chúng ta mạnh dạn cắt đứt “người thân cận” ngay tự trong bản thân của mình, Ngài nói: “Nếu tay hoặc chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; thà cụt tay cụt chân mà được vào cõi sống …” (Mt 18, 8).

Tay và chân là những phần trong thân thể của chúng ta, cho nên khó mà chặt đi được, bởi nó chính là “cá nhân tôi”, là “người thân cận” của tôi; tay và chân cũng là ám chỉ đến bạn bè thân thiết, là “người thân cận” mà tôi đã kết thân để thoả mãn nhu cầu vui chơi cá nhân, gây bè kết cánh hơn là vì nhu cầu thăng tiến cá nhân trong đời sống cộng đoàn. Nếu các bạn bè thủ túc ấy, tức là “cá nhân tôi” là “người thân cận” của tôi làm cớ vấp phạm cho tôi, thì chặt quăng nó đi, thà không có bạn bè thủ túc để tâm hồn tôi thảnh thơi yêu mến mọi người trong cộng đoàn, cùng nhau thăng tiến đạt đến mục đích là xây dựng một cộng đoàn biết yêu thương và phục vụ, hơn là có bạn bè thủ túc mà mỗi ngày tôi càng xa cách những anh em chị em là “người thân cận” của tôi ngay trong cộng đoàn của tôi.

Đức Chúa Giê-su trước khi kêu gọi các môn đệ, Ngài không ra điều kiện trước cho ông Phê-rô và ông An-rê là các anh phải vứt bỏ chài lưới đi mà đi theo làm môn đệ của Ta. Ngài cũng chẳng nói với ông Mát-thêu dẹp cái nghề thu thuế tội lỗi ấy đi mà theo Ta. Nghề chài lưới cũng như nghề thu thuế có thể nói là những “cá nhân tôi” của các môn đệ, nó thấm sâu vào trong xương trong thịt của các ông rồi khó mà bỏ đi được, Đức Chúa Giê-su biết như thế, nên Ngài mới nói với hai ông Phê-rô và An-rê: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4, 19), và với Mát-thêu thì Ngài nói: “Anh hãy theo tôi !” (Mt 9, 9).

Qua những lời mời gọi vắn tắt như thế, chúng ta thấy Đức Chúa Giê-su cũng đặc biệt tôn trọng “cá nhân tôi” nơi các môn đệ của Ngài khi chọn các ông, Ngài cũng không buộc các ông phải bỏ nghề, nhưng Ngài đã dùng tài nghệ chuyên môn đánh cá của các ông mà đổi cho các ông một công việc khác, công việc nầy vượt ra khỏi biển hồ Ga-li-lê, vượt ra khỏi tình cảm quê hương để trở thành “người thân cận” của các dân tộc trên mặt đất: nghề đánh cá người. Nhưng không phải vì thế mà các tông đồ đều lập tức trở nên hoàn thiện đâu, các ông còn phải học tập để nhận ra ai là “người thân cận” của mình qua những lời giáo huấn, qua những dấu lạ mà Đức Chúa Giê-su đã thực hiện, và nhất là qua sự khổ nạn và chết trên thập giá của Ngài, các ông nhận ra rằng: tình yêu tự nó đã trở nên gần gủi thân cận với mọi người rồi, và các ông đã dần dần chôn sâu, chôn chặt, từ bỏ “cá nhân tôi là người thân cận” của tôi tại biển hồ Ga-li-lê, để chỉ còn lại “cá nhân tôi” là người thân cận của mọi người mà thôi, nghĩa là các ông đã từ bỏ cha mẹ, vợ con, gia đình của cải.v.v… để rồi các ông được lại tình yêu đại đồng làm tài sản, và cả một thế giới làm người thân cận của mình vậy.

Cá nhân tôi là “người thân cận” của tôi thường xuất hiện nơi những con người ít cầu nguyện, không phải là bản thân họ không cầu nguyện, mà ngay trong khi cầu nguyện họ chỉ nói qua loa vài câu, và bắt Chúa phải nghe lời họ nói: “Lạy Chúa, xin cho con được giàu có …”, “Lạy Chúa, xin cho con được một cô vợ đẹp dễ thương…”; “Lạy Chúa, hôm nay cho con vô mánh, để con mua xe hơi đi lễ cho tiện …”…v.v… bởi vì họ chỉ biết có mình họ trong khi cầu nguyện, cho nên trong cuộc sống đời thường họ không mấy quan tâm đến những nhu cầu của anh em, họ không cảm thấy xúc động khi người anh em bị nạn, và thậm chí, họ còn cầu mong cho người anh em thua kém mình nữa.

Muốn cá nhân tôi trở thành “người thân cận” của mọi người, cũng như để nhìn thấy tất cả mọi người đều là “người thân cận” của mình, việc trước tiên là tôi phải tập cho bằng được bài học biết xúc động trước nỗi bất hạnh của tha nhân, bởi vì chính Đức Chúa Giê-su đã chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng (Mt 9, 36), biết mĩm cười và biết thứ tha, và chính Ngài cũng nói đã dạy chúng ta phải tha thứ đến bảy mươi bảy lần bảy (Mt 18, 22). Người biết xót thương trước những hoạn nạn, bất hạnh của anh chị em, là người biết nhìn ra lòng thương xót của Thiên Chúa đã dành cho mình; người biết tha thứ là người đã cảm nghiệm ra được tình yêu của Thiên Chúa đã dành cho bản thân của mình. Vì thế, họ không còn coi cá nhân tôi là “người thân cận” của tôi nữa, mà trái lại, họ yêu thương tất cả mọi người như là người thân cận của mình. “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy ” (Lc 10, 17). Lời của Đức Chúa Giê-su trên đây đã được họ hiểu rõ, và đem áp dụng trong cuộc sống đời thường của chính mình.

(còn tiếp)
------------------
http://www.vietcatholic.net/nhantai
http://blog.yahoo.com/nhantai
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com