Chính thể thần quyền Mahdi

Trong thời gian người Anh củng cố nền bảo hộ thì tệ nạn buôn nô lệ bị các đại cường cấm đóan gây nên nhiều khó khăn kinh tế cho vùng Sudan. Dân Sudan nổi dậy chống đế quốc Anh và những quân bản xứ từ Ai Cập đưa xuống, họ tòng quân dưới trướng của một giáo trưởng tên là Muhammad Ahmad ibn, ông tự xưng là Mahdi (người được Chúa hướng dẫn) và sau nhiều may mắn chiến thắng bất ngờ làm người dân Sudan tin là nhờ những phép lạ từ Trời ban xuống, ông đã vây hãm và chiếm được Khartoum, giết tướng Charles George Gordon vào năm 1885.

Mahdi thiết lập một chính thể thần quyền Hồi giáo, chọn Omdurman làm kinh đô. Sau khi chiếm được Khartoum chỉ có 6 tháng thì ông chết vì bệnh sởi, người kế vị Muhammad ibn Abdalla tự xưng là Khalifa đã dựa vào cái thế hăng say của những chiến thắng mà mang quân đi thánh chiến để chinh phục Ethiopia, Ai Cập và Equatoria.

Nhưng quân Ai Cập đã được người Anh tái trang bị với vũ khí mới, và đòan quân Sudan gồm những quân cảm tử gọi là Ansar và các thầy tu khổ hạnh gọi là Dervish đã bị tàn sát ở Toski (Tushkah), làm cho cái hào quang vô địch bị tan vỡ, người Bỉ đã chặn đứng họ tại Equatoria và người Ý đuổi họ ra khỏi Ethiopia.

Sau khi chính thể thần quyền thành lập được 13 năm, vào năm 1898, thống chế Sir Herbert Kitchener của Anh đã chiếm lại trọn vùng Sudan với một chiến thắng quyết định ngay tại ngưỡng cửa thủ đô Omdurman. Tại đây 50 ngàn quân Ansar và Dervish dùng chíên thuật biển người đã bị chặn đứng không thể tiến tới gần tầm đạn của súng cá nhân bởi một liên quân của Anh chỉ có 8 ngàn quân chính qui và 17 ngàn quân bản xứ, nhưng rất kỷ luật, có súng cộng đồng Maxim và biết sử dụng hỏa lực đại bác nhịp nhàng. Winston Churchill lúc đó là một sĩ quan kỵ binh (Lancers) kiêm phóng viên chiến trường đã tường thuật cuộc chinh chiến này một cách rất tỉ mỉ trong cuốn sách 'The River War', xuất bản năm 1899. Trong trận Omdurman, quân Ansar và Dervish chết 10 ngàn người, bị thương 13 ngàn và 5 ngàn bị bắt làm tù binh, về phía liên quân Anh, họ chỉ thiệt mạng có 47 người và 382 người bị thương. Trong sách, Churchill than phiền là liên quân đã bắn bỏ quá nhiều thương binh trong khi thu dọn chiến trường.

Chế độ Công Quản (Condominium) của Anh

Sau đó người Anh đòi Ai Câp phải nhượng quyền cai trị Sudan cho Anh. Từ năm 1899 dưới chế độ Công Quản (Condominium, cùng cai trị giữa Anh và Ai Cập) người Anh dùng chính sách Chia Để Trị đã lập ra hai vùng hành chính là Nam và Bắc, miền Bắc là của những người gốc Ả rập mà đa phần theo Hồi giáo, còn miền Nam là của những dân thiểu số theo các Tôn Giáo thờ Linh Vật và Thiên Chúa Giáo.

Nhiều cuộc nổi dậy đã xẩy ra ở Sudan nhưng đều bị dập tắt. Người Ai Câp cũng đã cố gắng đòi lại Sudan nhiều lần nhưng bị từ khước. Vào năm 1953 khi Ai Cập bãi bỏ nền quân chủ, những lãnh tụ mới là Muhammad Naguib và Gamal Abdel Nasser tin rằng muốn cho người Anh rút khỏi Sudan thì chỉ có một cách là Ai Cập cũng từ bỏ chủ quyền trên vùng này, như thế thì cái cớ của người Anh là cai trị Sudan giùm cho Ai Cập không còn hợp lẽ nữa. Những tính tóan này tỏ ra có hiệu quả và vào năm 1954 thì một hiệp ước đã được Anh và Ai Cập ký kết thành lập một nước độc lập Sudan. Sudan chính thức trở thành một quốc gia vào năm 1956, sau 136 năm là một phần của Ai Cập và sau 55 năm dưới cự cai trị của Anh.

Nội chiến 1

Nhưng ngay trước khi độc lập thì nội chiến đã xẩy ra giữa 2 vùng Nam và Bắc Sudan vì miền Nam cũng muốn được độc lập riêng rẽ. Quân miền Nam lúc này là một tóan quân ô hợp nhưng các chính phủ miền Bắc thì thiếu kinh nghiệm và không ổn định cho nên cuộc nội chiến cứ kéo dài tới 17 năm làm cho nửa triệu người chết. Năm 1972, Hiệp hội các giáo hội tòan cầu (World Council of Churches) dàn xếp ngưng bắn. Tổng thống Sudan là Gaafar Nimeiry đã ký hiệp ước Addis Ababa Agreement công nhận nền tự trị của Nam Sudan, và cả hai miền bắt đầu một giai đọan hòa bình được 11 năm.

Nội chiến 2

11 năm sau, năm 1983, dưới ảnh hưởng của phong trào Muslim Brotherhood (Huynh đệ Hồi Giáo), Gaafar Nimeiry tìm cách hủy bỏ hiệp ước Addis Ababa Agreement bằng những pháp lệnh áp đặt luật Hồi Giáo (Sharia Law) trên tòan lãnh thổ, ông giải tán chính phủ tự trị miền Nam và vẽ lại đường ranh giới Nam Bắc. Những biện pháp này đã nhúm lại mồi lửa nội chiến một lần nữa.

Mặc dù Mimeiry bị truất phế năm 1985 trong khi đi công cán tại Hoa Kỳ, hai chính phủ lâm thời do thủ lãnh đảo chánh là đại tá Omar al-Bashir thành lập năm 1985 và 1987 đã không được sự ủng hộ của miền Nam, cuộc nội chiến thứ hai tiếp diễn cho tới năm 1989 thì Omar al-Bashir với sự giúp đỡ võ khí và hổ trợ quốc tế của Trung Quốc ra lệnh tổng tấn công. Chiến tranh diễn ra rất đẫm máu, phá hủy tòan thể cơ sở hạ tầng của miền Nam, gây nhiều thương vong cho dân thiểu số. Chính quyền hòan tòan bị ngưng trệ, chỉ còn các giáo hội (Episcopal, Công Giáo) là những tổ chức hiếm hoi cung cấp những dịch vụ xã hội cho vùng.

Năm 1991 những phe phái trong nội bộ chính phủ miền Nam chia rẽ và phản lại nhau, họ yếu dần cho đến năm 1994 thì quân miến Bắc tiến sát tới biên giới Kenya và Uganda.

Thỏa ước Khartoum Peace Agreement được ký kết năm 1997 với những nhóm ly khai của miền Nam. Thỏa ước này công nhận trên giấy tờ miền Nam vẫn là một khu vực Tự Trị.

Nhưng nhiều nhóm quân miền Nam khác vẫn tiếp tục chiến đấu dưới một danh nghĩa mới là chống lại chính thể độc tài Hồi Giáo cũng như đòi hỏi quyền chia sẻ công bình những tài nguyên dầu hỏa cho miền Nam, những danh nghĩa này nhận được nhiều sự thông cảm của các nước Tây Phương.

Diệt chủng tại Darfur

Trong khi miền Nam Sudan đang kém thế ở nhiều nơi thì tại miền Dakfur cũng phát khởi một cuộc nội chiến khác và Sudan đã bị lên án vì những hành động dã man và diệt chủng ở đây.

Dakfur là một vùng đất cằn cỗi nằm ở phía Tây, có nhiều giống dân da đen tụ tập thành những bộ lạc nhỏ từ nhiều ngàn năm qua.

Tuy đa phần theo Hồi Giáo nhưng dân Dakfur bị giống Ả rập của phía Bắc coi như là lọai công dân hạng nhì. Đây từng là những nơi cung cấp tài nguyên Nô Lệ cho người Ả Rập ngày xưa.

Những quốc gia bên cạnh như Lybia và Chad cũng lợi dụng những phân hóa này để giữ lợi thế trong những tranh chấp cục bộ với Sudan.

Năm 2003 khi quân chính phủ Sudan còn đang bị trói tay tại miền Nam thì cuộc xung đột quân sự ở Dakfur bắt đầu. Nhiều bộ lạc da đen của vùng này đã tổ chức thành những nhóm võ trang tranh đấu cho quyền bình đẳng của họ.

Quân chính phủ sử dụng những đám kỵ mã thuê mướn từ những bộ lạc chăn lạc đà gọi là Janjaweed. Đám Janjaweed đột kích ở đâu thì tàn sát đàn ông và hãm hiếp đàn bà đến đấy, gây kinh hòang cho cả vùng. Số nạn nhân được ước lượng từ 200 cho tới 400 ngàn (al-Bashir chỉ cho là có 10 ngàn thôi). Số người bỏ chạy qua biên giới lên tới 2.7 triệu. Tòan vùng bị bỏ hoang và chết đói.

Tuy chính quyền Sudan phủ nhận liên hệ với nhóm Janjaweed, nhưng chứng cớ cho thấy chính phủ đã cung cấp tài chánh và vũ khí, và điều hợp những cuộc hành quân chung.

Năm 2008, tòa án Quốc tế International Criminal Court (ICC) ra trát bắt tổng thống Sudan al-Bashir về tội diệt chủng, tội chống nhân lọai và tội phạm chiến tranh. Sudan không hề ký hiệp định với tòa Quốc tế cho nên không tuân lệnh.

Năm 2010, Sudan đạt được một thỏa thuận với nhiều nhóm Darfur là sẽ cho vùng này được cơ chế tự trị giống như miến Nam, nhưng vẫn còn có nhiều nhóm nổi lọan lớn khác chưa đồng ý. Hòa bình ở vùng này sẽ tùy vào kết quả chung cuộc giữa hai miền Nam Bắc. Nếu miền Nam ly khai thì hầu như chắc chắn Darfur cũng đi theo lối mòn đó.