Những ngày gần đây tình hình Sudan sôi động trở lại. Chính quyền thống nhất của Sudan bất hòa. Phó tổng thống và là thủ lãnh miền Nam Salva Kiir Mayardit tuyên bố ông ủng hộ giải pháp ly khai của miền Nam vì giải pháp hiệp nhất chỉ đem lại cho người dân miền Nam một qui chế công dân hạng hai vĩnh viễn. Còn Tổng Thống Omar al-Bashir, người đang bị toà án Quốc Tế đòi bắt về tội diệt chủng và chống nhân loại, thì tuyên bố ông chỉ có thể chấp nhận giải pháp hiệp nhất Nam Bắc mà thôi, ông đang tìm mọi cách trì hoãn ngày Trưng Cầu Dân Ý mà lịch trình sẽ là phải thi hành vào tháng 1 năm 2011 (kết quả phải công bố ngày 9).

Thế giới đang đếm từng ngày tới thời điểm quyết định trên. Hai bên Nam Bắc đang điều động quân đội tới gần lằn ranh.

Nhận thấy chiến tranh khó tránh khỏi, Kiir lên tiếng kêu gọi thế giới can thiệp và Liên Hiệp Quốc đã điều động quân Gìn Giữ Hoà Bình đến các tỉnh miền Nam, nhưng tránh tới gần ranh giới vì có sự phản đối cuả al-Bashir, được hậu thuẫn bởi khối Ả Rập Hồi Giáo và cuả Trung Cộng.

Các hội thánh Kitô Giáo, gồm có Tân Giáo (Episcopal) và Công Giáo đã kêu gọi một giải pháp hoà bình. Riêng Giáo Hội Công Giáo đã tổ chức 101 ngày cầu nguyện cho Sudan.

Nhiều người dân và sinh viên miền Nam đang sống ở Khartoum đã khăn gói chạy về Nam bằng mọi phương tiện kể cả đi bộ để tránh những nhóm Hồi Giáo quá khích của miền Bắc đang biểu tình mỗi ngày.

Người ta lo ngại đây sẽ là ngòi thuốc nổ cuả môt cuộc chiến tranh lớn hơn giữa nhiều thế lực.

Giáo hội Tân Giáo cho biết nếu chiến tranh xẩy ra thì trên 4 triệu Kitô Hữu ở Bắc Sudan có nguy cơ bị đàn áp đẫm máu. Người ta biết rằng chiến tranh đã lấy đi trên 3 triệu sinh mạng ở đây từ năm 1956 mà nạn nhân đa phần là những người da đen thiểu số và những giáo dân Kitô giáo.

Chắc chắn nếu cuộc chiến Nam Bắc tái phát trở lại thì miền Darfur đang có một nền hòa bình bất ổn sẽ bùng nổ ngay.

Các giếng dầu lửa cuả vùng đệm giữ hai miền Nam Bắc là Abyei mà Trung Cộng đang khai thác triệt để cũng sẽ cháy rụi giống như vụ đốt cháy các mỏ dầu ở Kuwait do Sadam Hussein.

Một cuộc khủng hoảng dầu lửa sẽ xẩy ra?

Có thể đây sẽ là cuộc chiến tranh ở nước ngòai đầu tiên cuả một cường quốc đang lên là Trung Cộng? Cuộc chiến chắc chắn sẽ lôi kéo khối Hồi Giáo về phiá Trung Cộng.

Hoặc là phải chăng đây cũng là khởi đầu cuả một cuộc chiến cuả khối Hồi Giáo vùng lên để chống lại sự đàn áp(?) cuả Hoa Kỳ, cuả phương Tây và cuả khối Kitô Giáo? Khối Hồi Giáo chắc chắn sẽ giành được sự hậu thuẫn cuả Trung Cộng và có thể cuả Nga. Trong khi Ấn Độ có thể sẽ ủng hộ phương Tây.

Dù động lực cuả cuộc chiến là thế nào đi nữa, thì nó cũng có khả năng tạo ra một cuộc binh lửa kéo dài một nửa vòng trái đất từ Điạ Trung Hải xuống tới tận miền Nam Á.

Và có thể là thế chiến thứ 3?

Liệu những nỗ lực ngoại giao cuả Liên Hiệp Quốc và cuả Hoa Kỳ có thể cứu vãn nền hoà bình ở Sudan không? và cái giá cuả hoà bình này có phải trả bằng quyền lợi chánh đáng cuả dân thiểu số da đen và cuả những người không theo Hồi Giáo không?

Để tìm câu trả lời, chúng ta hãy bắt đầu bằng cách tìm hiểu nước Sudan. Một quốc gia mà đa phần dân số sống nhờ vào nông nghiệp như Việt Nam (80%), có nhiều tài nguyên và nhiều cơ hội nhưng vẫn là một nền kinh tế yếu kém dưới Việt nam một số hạng (181 vs 165).

Đây là một quốc gia có một lịch sử bi thảm mà ngày nay lại còn bi thảm hơn nữa với sự áp đặt lý tưởng Hồi Giáo và luật độc đóan Sharia, là những nguyên nhân gây nên thảm cảnh nội chiến làm cạn kiệt nhân lực quốc gia, phá hủy hạ tầng cơ sở kinh tế và xã hội. Một quốc gia đầy dẫy tham nhũng, chính phủ bán rẻ tài nguyên cho ngọai bang để đổi lấy vũ khí. Một quốc gia thất bại mà chính quyền là một nhóm quân phiệt độc tài chỉ lo củng cố quyền hành phe nhóm, nuôi dưỡng khủng bố và cổ vũ xung đột chủng tộc.

Thời Cổ

Đất Sudan nằm ở phía Nam của Ai Cập, tại đây hai nhánh sông Nile Xanh và Nile Trắng (Blue Nile, White Nile) hội ngộ tại Khartoum tạo ra giòng sông Nile chảy lên phía Bắc xuyên qua các vùng đất sa mạc của Ai cập trước khi đổ vào Địa Trung Hải.

Dòng sông Nile vừa là một đường giao thông vừa là một chướng ngại giữa Sudan và Ai Cập. Về mùa hè có lũ, mực nước dâng cao, người ta có thể dùng thuyền buồm dựa theo gió Bấc mạnh cộng với việc sử dụng dây chão kéo từ bờ mà bơi thuyền ngược giòng nước tới Khartoum. Nhưng vào các mùa khác khi nước sông hạ thấp để lộ ra 3 ghềnh nước dài (3 cataracts, cataract thứ hai dài 9 miles) có nhiều đá nhọn và nước chảy xiết thì giao thông bị gián đọan. Ngòai sự giao thông ở trên sông ra, vùng đất ở hai bên ghềnh nước là núi đá hiểm trở nên di chuyển bằng đường bộ thì rất khó khăn và nguy hiểm.

Từ nhiều ngàn năm qua, miền Bắc Sudan giáp giới với Ai Cập là một phần của Ai Cập thời Cổ. Theo những khai quật mới nhất, người ta biết rằng nhiều triều đại tiền sử của Ai Cập đã phát xuất từ đây.

Hồi đó đất của người Nubia nằm ở hai bên biên giới Ai cập và Sudan. Xứ này bị Ai Cập chiếm từ 800 năm Trước Công Lịch, tuy nhiên vào năm 750BC (TCL), một vị vua Nubia đã khởi nghĩa chiếm lấy tòan thể Ai Cập và lập nên triều đại Kush dài 100 năm. Đế quốc Kush lan rộng qua Palestine chống chọi với đế quốc Assyria ở Syria nhưng sau đó suy yếu và phải rút về lại vùng thượng nguồn sông Nile để cố thủ dựa vào 3 ghềnh nước. Vuơng triều Kush duy trì độc lập trước những cố gắng thôn tính từ phương Bắc của Ai Cập và đã mở rộng biên cương xuống miền Nam Sudan, cho tới năm 350 thì bị đế quốc La Mã xóa sổ.

Kitô Giáo

Sau khi đế quốc Kush suy tàn thì Sudan đã phân tán thành nhiều vương quốc độc lập nhưng không vững bền. Vào thế kỷ thứ 6 có 6 vương quốc trong đó một số theo Kitô Giáo và tổ chức vương triều theo khuôn mẫu của đế triều Byzantine, thí dụ như vuơng quốc Nubia, vuơng quốc Alwa, vương quốc Makuria. Vương quốc Makuria trở về với đạo Công Giáo vào thế kỷ 7, còn những vương quốc khác theo phái Coptic. Nói chung, Kitô giáo tồn tại 10 thế kỷ ở vùng này và đã là một thành lũy ngăn cản bước tiến của người Ả rập (và đạo Hồi) cho đến thế kỷ 16. Họ để lại nhiều di tích lịch sử nhưng ngày nay đã bị chìm dưới hồ nước Nasser vĩ đại tạo ra bởi đập Aswan. Hồ Nasser bao trùm hầu hết miền đất truyền thống của người Nubia.

Khi hồ nước Nasser đựoc xây dựng thì người Nubia cũng phải di dời ra những vùng khác. Những người ở bên Ai Cập đã di chuyễn về các thành phố và bị đồng hóa, những người ở phía Sudan thì lui về những làng mạc hẻo lánh và thường bị chính quyền gốc Ả Rập ở Khartoum săn đuổi. Nhiều bộ lạc gốc Ả rập vẫn còn đánh phá các làng Nubia ở Sudan để bắt phụ nữ và trẻ em làm nô lệ, một tệ nạn mà hằng năm cơ quan Human Watch vẫn còn lên tiếng cảnh báo.

Số phận của người Nubia cũng tương tự như số phận của người Chàm ở Việt Nam. Ngày nay căn tính của họ đã bị tiêu diệt chỉ còn để lại một vài di tích trên cách trang phục và qua phong tục tập quán tại một số vùng. Dân số Nubia hiện chỉ còn khỏang 300 ngàn người.

Hồi Giáo

Trở lại thế kỷ thứ 7, nhiều làn sóng chinh phục của người Ả rập xâm lăng Sudan nhưng thất bại trước lực lương của người Nubia và phải giảng hòa. Người Ả Rập Hồi giáo sau đó gây ảnh hưởng với Sudan bằng giao thương, bằng phương pháp tiềm thực và đồng hóa. Tới thế kỷ 13 thì các vương quốc Kitô Giáo như Nubia không có đủ gíao sĩ và tới thế kỷ 15 thì suy tàn vì những tranh chấp cung đình. Vương quốc Alwa là vương quốc Kitô giáo cuối cùng bị một bộ tộc theo Hồi giáo tên là Funj chiếm lấy vào thế kỷ 16. Vào năm 1820, một tướng của đế quốc Ottoman đang cai trị Ai Câp là Muhammad Ali Pasha đã xua quân chiếm trọn Sudan và thu về một mối. Tuy ông chỉ là một thủ hiến (Wali) của Ottoman, nhưng có tham vọng làm hòang đế nên tự mình xưng vương (Khedive) và sát nhập đất Sudan vào với Ai cập làm của riêng. Quân lực của Ali và cuả người con là Abrahim đã có lần đe dọa thủ đô Ottoman là Constantinople (Istanbul) nhưng bị các đại cường can thiệp phải lui trở về Sinai và Ai Cập.

Vào những năm 1880, vì nạn tham nhũng gây nên một cuộc nội lọan lớn đe dọa đến sự sống còn của triều đình, Khedive của Sudan-Ai Cập là Tewfik (cháu 6 đời của Ali) đã kêu gọi sự giúp đỡ của các đại cường. Lúc đó đế quốc Anh nhận thấy sự quan trọng của kinh đào Suez nên muốn giữ một vai trò quyết định hơn ở đây. Muợn cớ giúp Tewfik, Anh đã nuốt trọn Ai Cập vào năm 1882, thành lập một nền bảo hộ mượn danh nghĩa của nhà vua.