CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN
Am 7: 12-15: Bài đọc I nhắc nhớ rằng ngôn sứ A-mốt, vốn xuất thân từ vương quốc phương Nam, cũng được gọi vương quốc Giu-đa, được Thiên Chúa sai đi rao giảng cho các con chiên lạc của vương quốc phương Bắc, cũng được gọi vương quốc Ít-ra-en. Sứ vụ thật khó khăn và cuối cùng vị ngôn sứ bị trục xuất.
Mc 6: 7-13: Tin Mừng tường thuật việc Đức Giê-su sai nhóm Mười Hai ra đi thi hành sứ vụ với lời căn dặn phải có tinh thần siêu thoát hoàn toàn, cũng như báo trước những thất bại có thể có.
Ep 1: 3-14: Đề tài chính của đoạn trích thư thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô hôm nay được trình bày ngay từ phần mở đầu: thiên ý cứu độ nhân loại được Đức Ki tô mặc khải và hoàn tất, và được giao phó cho Giáo Hội.
BÀI ĐỌC I (Am 7: 12-15)
Các sự việc diễn ra ở vương quốc phương Bắc, dưới triều đại của vua Gia-róp-am II (787-747 BC)
1. Hoàn cảnh lịch sử.
Để hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử ở đó ngôn sứ A-mốt được Thiên Chúa sai đi thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình, xin được nhắc lại, sau khi vua Sa-lô-mon băng hà, vào năm 931BC, mười hai bộ tộc Ít-ra-en chia rẽ nhau. Hai bộ tộc vẫn trung thành với vương triều Đa-vít và thành lập vương quốc phương Nam, còn gọi là vương quốc Giu-đa. Mười bộ tộc còn lại chọn cho mình một vị vua mới, Gia-róp-am và hình thành nên vương quốc phương Bắc, còn gọi là vương quốc Ít-ra-en.
Vương quốc phương Nam có lợi thế là Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Đối lại, vương quốc phương Bắc thiết lập hai đền thánh: đền thánh Ghin-gan ở cực bắc xứ Pha-lê-tinh, bên cạnh một trong những nguồn nước của sông Gio-đan; và đền thánh Bết-En, ở cực nam cách Giê-ru-sa-lem khoảng chừng 15 cây số. Đền thánh Bết-En có ưu điểm là nhắc nhớ tổ phụ Gia-cóp; chính ở nơi đây mà tổ phụ đã có một giấc mơ lưu truyền mãi (một chiếc thang nối liền trời và đất) trong đó ông đã nghe tiếng Đức Chúa phán. Vì thế vị tổ phụ đã gọi nơi nầy là Bết-En, nghĩa là “Nhà của Thiên Chúa”.
Hai đền thánh nầy, cũng như các tư tế phụng sự chúng, hoàn toàn lệ thuộc vương triều, như ông A-ma-xi-a, tư tế đền thờ Bết-En, giải thích cho ngôn sứ A-mốt: “Đây là thánh điện của quân vương, đây là đền thờ của vương triều”.
Vốn là người sinh sống ở vương quốc phương Nam; vị ngôn sứ đã được Thiên Chúa sai đến vương quốc phương Bắc để thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình. Ngôn sứ xuất thân từ một thị trấn miền Bết-lê-hem; ông làm nghề chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung, chính xác là châm những trái nho dại để làm cho chúng trở thành trái ngọt và mau chín (phải chăng đây cũng chính là ý nghĩa sứ mạng ngôn sứ của ông?).
Sứ mạng của vị ngôn sứ thật khó khăn. Ông phải ngỏ lời với dân chúng đang sống trong cảnh thanh bình, thịnh vượng và phú túc. Tuy nhiên, xã hội lắm bất công. Những kẻ lắm tiền nhiều của liên kết với những kẻ có thế có quyền đàn áp những người cùng khổ. Sứ điệp của ngôn sứ gởi đến vương quốc thịnh vượng nầy thật nghiêm khắc: “Chúng ghét người sửa trị nơi cửa công và thù oán kẻ ăn ngay nói thật. Vậy, bởi các ngươi chà đạp kẻ yếu hèn và đánh thuế lúa mì của họ, nên những ngôi nhà bằng đá đẻo các ngươi đã xây, các ngươi sẽ không được ở; những gốc nho ngon ngọt các ngươi đã trồng, các ngươi sẽ không được uống rượu của chúng. Bởi Ta biết tội ác các ngươi nhiều vô kể, tội lỗi các ngươi nặng tầy trời: nào áp bức người công chính, lại đòi quà hối lộ, nào áp bức kẻ nghèo hèn tại cửa công” (5: 10-12). Vị ngôn sứ phẩn uất trước những lễ lạc xa hoa, những đám rước linh đình của những kẻ làm giàu trên xương máu của những người nghèo hèn và nhận thấy ở nơi những lớp võ thịnh vượng vật chất giả tạo bên ngoài là thực chất của một xã hội bất công thối nát. Vào thời buổi nầy, cách xử thế khôn ngoan nhất là “Dĩ hòa vi quý”: “Bởi thế thời buổi nầy, ai cẩn trọng thì làm thinh, vì đây là một thời khốn quẩn” (5: 13). Bởi thế, vị ngôn sứ tuyên sấm tố cáo lối sống gian trá của vương quốc nầy: “Vào ngày Ta trị tội Ít-ra-en Ta sẽ triệt hạ các bàn thờ của Bết-Ên: các sừng của bàn thờ sẽ bị bẻ gãy và quăng xuống đất. Biệt thự mùa đông, biệt thự mùa hè, Ta sẽ triệt phá; điện ngọc đền ngà sẽ sụp đổ, lâu đài dinh thự cũng tan hoang” (3: 14-15).
Quả thật, vị ngôn sứ đã thấy trước mối nguy hiểm của các đạo quân Át-sua và ông ra sức cảnh báo ngõ hầu vương quốc Ít-ra-en thoái khỏi án phạt: “Hãy tìm Đức Chúa thì các ngươi sẽ được sống” và “Hãy tìm kiếm điều lành chứ đừng tìm điều dữ rồi các ngươi sẽ sống”. Ngôn sứ A-mốt không nêu đích danh Át-sua; ông chỉ nói đơn giản “quân thù”: “Quân thù sẽ bao vây lãnh thổ, sẽ triệt hạ sức mạnh của ngươi, và đền đài của ngươi sẽ bị cướp phá…” (3: 11). Rảo khắp các thành thị và đền thánh, vị ngôn sứ cảnh báo: liệu Thiên Chúa sẽ gìn giữ dân của Ngài, nếu dân vẫn cứ ngoan cố trong tội ác của mình? Sấm ngôn của ông càng lúc càng đe dọa. Sấm ngôn của ông sẽ được ứng nghiệm. Vương quốc phương Bắc sẽ sụp đổ dưới những cuộc tấn công của quân đội Át-sua và biến mất vĩnh viễn khỏi lịch sử vào năm 721 BC.
2. Phẩm chất của vị ngôn sứ của Thiên Chúa.
Tư tế A-mát-gia tố cáo vị ngôn sứ với vua Gia-róp-am: “A-mốt âm mưu chống đức vua ngay trên lãnh thổ Ít-ra-en, và đất nước nầy không còn chịu nổi bất cứ lời nào của ông ta nữa. Vì A-mốt nói như thế nầy: Gia-róp-am sẽ chết vì gươm, và Ít-ra-en sẽ bị đày biệt xứ” (7: 10-11). Hoặc thừa hành lệnh vua, hoặc lệnh của mình với tư cách vị tư tế lãnh đạo đền thờ Bết-Ên, A-mát-gia truyền lệnh cho ngôn sứ A-mốt ra khỏi thánh địa nầy mà trở về vương quốc Giu-đa: “Nầy thầy chiêm ơi, mau chạy về đất Giu-đa, về đó mà kiếm ăn, về đó mà tuyên sấm!”.
Tư tế A-mát-gia vu khống ngôn sứ A-mốt khi đồng hóa vị ngôn sứ với các ngôn sứ nghề nghiệp, họ tuyên sấm như một nghề nghiệp để làm ăn, để kiếm tiền. Trước lời vu khống nầy, Ngôn sứ A-mốt đáp lại: ông không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ, nhưng chỉ là người chăn súc vật và chăm sóc cây sung. Chính Đức Chúa “đã bắt lấy” ông khi ông đang làm công việc của mình, nghĩa là Ngài đã gọi ông và sai ông đi thi hành sứ mạng của Ngài mà ông không thể cưỡng kháng được. Đó là cứu thoát dân Ít-ra-en khỏi án phạt của Thiên Chúa sắp đến.
Phải chăng lệnh truyền của tư tế A-mát-gia đã chấm dứt sự vụ của ngôn sứ A-mốt? Chúng ta không biết chính xác; nhưng xem ra sứ mạng của A-mốt chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, sứ điệp của ông vẫn lưu danh muôn thuở.
Ngôn sứ A-mốt là ngôn sứ xưa nhất mà chúng ta vẫn còn gìn giữ được sứ điệp bằng văn tự của ông. Ông đã khai mào độc thần giáo luân lý của truyền thống ngôn sứ bằng văn tự: đưa đạo vào đời. Ở nơi sứ điệp của ông chúng ta gặp thấy âm vang lời dạy của Công Đồng Va-ti-can II trong Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng”: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Ki tô, và không có gì thật sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ. Thật vậy, cộng đoàn của họ được cấu tạo bằng những con người đã được quy tụ trong Chúa Ki tô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành về Nước Cha và đã đón nhận Tin Mừng cứu rỗi đem đến cho mọi người. Vì thế, cộng đoàn ấy mới nhận thấy mình thực sự liên đới mật thiết với loài người và lịch sử loài người” (1).
BÀI ĐỌC II (Ep 1: 3-14)
Vào Chúa Nhật XV nầy, chúng ta khởi sự đọc những đoạn văn chính yếu được trích từ thư thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô.
Thánh Phao-lô đã viết bức thư nầy khi ngài bị giam cầm ở Rô-ma vào những năm 61-63. Chủ đề của bức thư là ý định Thiên Chúa trên nhân loại, được Đức Giê-su mặc khải, thực hiện và trao phó cho Giáo Hội tiếp tục hoàn tất.
1. “Chúc tụng Thiên Chúa…”
Đoạn văn mà chúng ta đọc là phần đầu của bức thư ngay sau lời chào mở đầu. Thánh nhân diễn tả tâm tình tạ ơn theo cách thức cầu nguyện theo truyền thống Do thái, được gọi “berakah”: “Chúc tụng Thiên Chúa”. Dù cá nhân hay cộng đoàn, lời kinh nguyện nầy bày tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa, không trong quan điểm trừu tượng, nhưng luôn luôn vì những ân phúc rõ ràng. “Lời kinh chúc tụng” (Berakah) nầy có thể là lời cầu nguyện tự phát của cá nhân mà những lời kinh “magnificat” cung cấp những điển hình của bà An-na, mẹ ông Sa-mu-en, của ông Tô-bi-a, của Đức Ma-ri-a. Đây cũng là lời kinh nguyện gia đình trước bữa ăn và đặc biệt long trọng vào bữa ăn vượt qua. Đức Giê-su đã đọc “lời kinh chúc tụng” trên bánh và rượu. Sau cùng, lời kinh chúc tụng là hình thức tuyệt vời nhất của kinh nguyện hội đường.
Thánh Phao-lô, trước đây là kinh sư, vẫn trung thành với hình thức ngợi khen nầy. Toàn bộ bài thánh thi nầy kể ra muôn phúc lộc mà Thiên Chúa đã đổ đầy cho nhân loại như chúng ta gặp thấy thánh nhân cũng bắt đầu thư thứ hai gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô như vậy: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi nhân ái, và là Thiên Chúa hằng sẳn lòng ủi an những ai lâm cảnh gian nan khốn khó…” (2Cr 1: 3).
2. Ý định muôn thuở của Thiên Chúa.
Trước tiên, thánh Phao-lô nhắc nhở rằng Thiên Chúa là nguyên lý và nguồn mạch của muôn phúc lộc và Ngài đã chuẩn bị từ muôn thuở kế hoạch của Ngài trên nhân loại.
Chúng ta ghi nhận rằng “lời kinh chức tụng” này bắt đầu với: “Từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ân phúc của Thánh Thần” và được hoàn tất trên viễn cảnh của dân riêng, dân được chọn, được thừa hưởng gia sản được hứa ban, nghĩa là gia sản trên cõi trời. Rõ ràng theo cách thức của thánh nhân, công thức kết thúc chủ ý nhắc lại những gợi ý ban đầu (kỷ thuật đóng khung). Như vậy, chúng ta khởi đi từ cõi trời từ đó đến muôn vàn phúc lộc để gặp lại cùng những thiên ân tối hậu trên cõi trời nầy.
3. Đức Ki tô và chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Chính nhờ Đức Ki tô, Thánh Tử của Người mà chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã được thực hiện.
Trong nhiệm cục xưa, mọi sự đều nhằm chuẩn bị cho cuộc giáng trần của Đức Giê-su; trong nhiệm cục mới, mọi sự đều khởi đi từ Đức Ki tô. Thánh Phao-lô đặt ở trung tâm lời nguyện ngợi khen của mình công trình cứu chuộc. Đối với trí khôn loài người, mặc khải mầu nhiệm nầy hình thành nên một sự khai mở diệu kỳ và “khôn dò”, tròn đầy khôn ngoan (chúng ta nhận ra ở đó một đề tài rất tâm đắc của thánh nhân trong thư gởi tín hữu Ê-phê-sô nầy).
Sau cùng, thánh nhân gợi lên hành động hiệp nhất của Đức Giê-su, Đấng “quy tụ ở nơi Ngài muôn loài trong trời dưới đất”. Động từ Hy lạp “ana-kephalaïô” dịch “quy tụ” được thánh Phao-lô dùng một lần khác trong thư của thánh nhân gởi cho các tín hữu Rô-ma, để nói lên rằng giới luật Đức Ái “thâu tóm” tất cả mọi giới luật khác (Rm 13: 9).
Trong đoạn văn trích từ thư gởi các tín hữu Ê-phê-sô nầy, ý nghĩa cũng như vậy. Đức Giê-su “thâu tóm” toàn thể vũ trụ vì Ngài là cách thức diễn tả cao nhất của toàn thể vũ trụ, mọi loài đều quy hướng về Ngài. Nối tiếp với thánh Phao-lô, từ “thâu tóm” đã đi vào trong từ vựng thần học, nhất là với thánh I-rê-nê, và trở thành đối tượng của biết bao khai triển.
Nói một cách chính xác, thánh Phao-lô không gán cho Đức Ki tô vai trò vũ trụ, nhưng triển khai khái niệm nhiệm thể. Theo cách nầy, thánh nhân đáp lại những quan niệm Do thái, mà ngài đã chống lại rồi trong thư gởi cho các tín hữu Cô-lô-sê, đồng thời cũng đáp trả những quan điểm của phái khắc kỷ.
Trong vài môi trường Do thái, người ta gán cho các thiên thần một vai trò đặc biệt và xem các thiên thần là những người tổ chức vũ trụ. Các Ki tô hữu xuất thân từ Do thái giáo gìn giữ những niềm tin như thế nên giảm nhẹ vai trò của Đức Ki tô. Thánh Phao-lô hiệu đính lại mọi việc.
Đối với phái khắc kỷ, họ thấy trong sự hòa điệu và trật tự của vũ trụ ảnh hưởng sức mạnh thần thiêng. Những cách diễn tả của thánh Phao-lô rất gần với phái khắc kỷ, nhưng thánh nhân loại bỏ tất cả khuynh hướng phiếm thần. Về điểm nầy, thánh nhân định vị mình vào trong truyền thống minh triết Cựu Ước, mượn vài đề tài ở nơi trường phái khắc kỷ nhưng định vị chúng vào trong viễn cảnh của sự siêu việt thần linh (Hc 43: 26-28; Kn 1: 7; 7: 22-23; 12: 1, vân vân).
3. Diễn tiến lịch sử của chương trình Thiên Chúa: khía cạnh Ba Ngôi.
Lúc đó thánh Phao-lô nhắm đến việc diễn tiến trong Lịch Sử chương trình Thiên Chúa trên nhân loại. Các giai đoạn bày tỏ ba hành động của Thiên Chúa: hành động của Chúa Cha, hành động của Chúa Con, hành động của Chúa Thánh Thần.
Trước tiên, thánh nhân gợi lên việc tuyển chọn của Ít-ra-en, dân được Chúa chọn để làm nhân chứng về việc trông đợi Con của Ngài; thánh nhân ngõ lời với các tín hữu gốc Do thái mà ngài kể mình vào trong số họ với đại từ “chúng tôi”: “Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Người, đã tiền định cho chúng tôi đây…”.
Tiếp đó, thánh nhân nói với các tín hữu gốc lương dân bằng đại từ “anh em”: “Trong Đức Ki tô cả anh em nữa, anh em đã được nghe lời chân lý là Tin Mừng cứu độ anh em…”.
Sau cùng, việc sai phái Chúa Thánh Thần một cách nào đó hình thành nên lời cam kết mà Thiên Chúa đã hứa là ban gia nghiệp, nghĩa là được sống bên Ngài để “ngợi khen vinh quang Thiên Chúa”.
Diễn ngữ “ngợi khen vinh quang Thiên Chúa” lập lại đến ba lần như một điệp khúc trong lời kinh chúc tụng nầy. Đó là mục đích tối hậu của chương trình Thiên Chúa: đó là cứu cánh của nhân loại.
TIN MỪNG (Mc 6: 7-13)
Trong chương trước, thánh Mác-cô đã tường thuật việc Đức Giê-su chọn nhóm Mười Hai khi xác định: “Người thiết lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (3: 14). Thánh Lu-ca tường thuật cùng một sự kiện và nói thêm: “Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ” (Lc 6: 13). Thật ra, các thánh ký đã tránh dùng danh xưng “Tông Đồ” nầy – thánh Gioan không bao giờ dùng thuật ngữ nầy – vì danh xưng “Tông Đồ” tức là “người được sai đi” mà chỉ mình Đức Giê-su xứng đáng với tước hiệu nầy: Ngài là Đấng được sai đi từ Chúa Cha. Chung chung các thánh ký thường nói: “nhóm Mười Hai” hay “các môn đệ”.
Sau một thời gian chuẩn bị: “nhóm Mười Hai” đã sống với Ngài, đã lắng nghe giáo huấn của Ngài, đã là những nhân chứng về các phép lại của Ngài, cũng như về sự thất bại của Ngài ở Na-da-rét, Đức Giê-su cho rằng đã đến lúc đặt các ông vào trong thử thách khi sai các ông đi thi hành sứ vụ.
Cử chỉ nầy của Đức Giê-su là một sự mới mẽ. Vào thời của Ngài, các kinh sư quy tụ chung quanh mình một nhóm môn đệ, để chia sẻ cuộc sống của mình; họ không bao giờ nghĩ đến việc sai các môn đệ ra đi và ủy quyền cho các môn đệ một sứ mạng.
Chính Đức Giê-su đích thân sai các ông đi, như sau nầy Ngài sẽ nói với họ trước khi từ giả các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em đi”.
1. Sai đi từng hai người một.
Ngài sai các ông đi từng hai người một. Thánh Mát-thêu đã gìn giữ cho chúng ta nhóm từng hai người một nầy: Phê-rô và An-rê, Gia-cô-bê và Gioan, Phi-líp-phê và Ba-tô-lô-mê-ô, Tô-ma và Má-thêu, Gia-cô-bê và Ta-đê-ô, Si-mon và Giu-đa.
Có phải ở đây Đức Giê-su quan tâm đến tâm lý? Chắc chắn công việc dể dàng hơn nếu có hai người cùng chung sức làm, nhưng cũng vì quy định của Lề Luật theo đó một lời chứng chỉ có giá trị nếu nó được hai nhân chứng cung cấp (cf. Đnl 17: 6; 19: 15; Ds 35: 30); thêm nữa, con số hai cũng là biểu tượng cộng đoàn, nghĩa là các thừa sai không làm việc đơn lẻ mà là làm việc theo từng nhóm.
Các môn đệ sẽ làm chứng từng hai người một về những dấu chỉ của Vương Quốc Thiên Chúa:
- quyền năng trên những thế lực của sự ác,
- siêu thoát khỏi những bận lòng trần thế để nhắm đến những của cải tinh thần.
2. Hành trang của vị thừa sai.
Đoạn những căn dặn của Đức Giê-su nhắm đến hành trang thật gọn nhẹ của các môn đệ, hay đúng hơn không trang bị gì cả: không lương thực, không bao bị, không tiền giắc lưng, không áo để thay đổi. Có vài chi tiết khác biệt giữa các Tin Mừng Nhất Lãm, tuy nhiên bài học thì rõ ràng: đức khó nghèo và sự phó thác hoàn toàn vào ơn Quan Phòng phải là những dấu ấn mà các thừa sai để lại trong lòng mọi người. Phong thái họ cực kỳ đơn giản giống như những lữ khách lòng không vương vấn bất cứ điều gì cả. Họ được mô tả như những khách hành hương luôn luôn sống trong tư thế lên đường, không tìm cách định cư ở một nơi nào nhất định, bởi vì cón có những nơi khác cần đến sứ điệp của họ nữa. Vào lúc dùng bữa sau cùng với các môn đệ, Đức Giê-su sẽ hỏi các ông: “Khi Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không?”. Mọi người đồng thanh đáp: “Thưa không” (Lc 22: 35).
Quả thật truyền thống hiếu khách đông phương tạo cơ hội thuận tiện cho việc thi hành sứ vụ của các các môn đệ trên đường. Tuy nhiên Đức Giê-su căn dặn họ một sự ổn định nào đó: “Khi anh em vào nhà nào mà người ta đón tiếp, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi”.
3. Giũ bụi chân.
Là vị thừa sai đi rao truyền sứ điệp một cách vô vị lợi, nên họ được hưởng quyền tiếp đón một cách vô vị lợi từ những gia đình mà họ viếng thăm. Nhưng Đức Giê-su cũng tiên liệu sứ điệp kêu gọi hoán cải mà họ sẽ ra giảng có thể kéo theo sự khước từ: “Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ”.
Đây là tập tục của người Do thái sau cuộc hành trình trở về. Vào lúc đặt chân lên miền đất Pha-lệ-tinh họ giũ bụi đường khỏi giày dép để không đưa bụi phàm trần vào đất của mình mà họ coi như đất thánh. Trong lời căn dặn của Đức Giê-su, không có bất kỳ một sự khinh bĩ nào đối với những người khước từ sứ điệp, nhưng một ý tưởng tuyệt giao.
Lời rao giảng của các môn đệ chưa trọn vẹn vì họ chưa rao giảng con người của Đức Giê-su – vã lại họ khó hiểu được Ngài vào giây phút nầy – nhưng chỉ chuẩn bị cho các tâm hồn: kêu gọi hoán cải. Như Đức Giê-su, lời rao giảng của họ kèm theo những dấu chỉ: trừ quỷ, xức dầu bệnh nhân và chữa lành bệnh tật.
4. Xức dầu bệnh nhân:
Vào thời Cựu Ước người ta xức dầu để làm dịu vết thương; các tông đồ xức dầu, không như một phương thuốc, nhưng như dấu chỉ biểu tượng của một tác động siêu nhiên. Công Đồng Tren-tô đã thấy trong cử chỉ của các tông đồ nầy một trực giác, một phác thảo bí tích xức dầu bệnh nhân. Thư thánh Gia-cô-bê chứng thực rằng bí tích nầy được thực hành ngay từ thời các tông đồ (Gc 5: 14-15).
Bệnh nhân được chữa lành, ma quỷ bị trục xuất, những cử chỉ của các tông đồ nầy được ghi khắc trong cùng những hàng với các cử chỉ của Đức Giê-su. Các sự dữ được gán cho tội lỗi: việc chúng bị giảm đi loan báo thời đại của lòng Chúa xót thương.
5. Ý nghĩa:
Bài diễn từ sai các môn đệ lên đường nầy rất cổ kính vì ảnh hưởng rất sâu đậm của các phong tục thời xưa. Tuy nhiên sứ điệp của nó rất hiện thực. Tin Mừng được truyền bá bằng những phương tiện tiện nghèo khổ và trao ban một cách vô vị lợi mời gọi mọi người đón nhận nó cũng một cách vô vị lợi. Sứ điệp được đi kèm theo các dấu chứng chiến thắng của Đức Ki tô trên sự Ác và Tử Thần là sứ điệp muôn thuở của bài trình thuật cổ kính nầy.
Am 7: 12-15: Bài đọc I nhắc nhớ rằng ngôn sứ A-mốt, vốn xuất thân từ vương quốc phương Nam, cũng được gọi vương quốc Giu-đa, được Thiên Chúa sai đi rao giảng cho các con chiên lạc của vương quốc phương Bắc, cũng được gọi vương quốc Ít-ra-en. Sứ vụ thật khó khăn và cuối cùng vị ngôn sứ bị trục xuất.
Mc 6: 7-13: Tin Mừng tường thuật việc Đức Giê-su sai nhóm Mười Hai ra đi thi hành sứ vụ với lời căn dặn phải có tinh thần siêu thoát hoàn toàn, cũng như báo trước những thất bại có thể có.
Ep 1: 3-14: Đề tài chính của đoạn trích thư thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô hôm nay được trình bày ngay từ phần mở đầu: thiên ý cứu độ nhân loại được Đức Ki tô mặc khải và hoàn tất, và được giao phó cho Giáo Hội.
BÀI ĐỌC I (Am 7: 12-15)
Các sự việc diễn ra ở vương quốc phương Bắc, dưới triều đại của vua Gia-róp-am II (787-747 BC)
1. Hoàn cảnh lịch sử.
Để hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử ở đó ngôn sứ A-mốt được Thiên Chúa sai đi thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình, xin được nhắc lại, sau khi vua Sa-lô-mon băng hà, vào năm 931BC, mười hai bộ tộc Ít-ra-en chia rẽ nhau. Hai bộ tộc vẫn trung thành với vương triều Đa-vít và thành lập vương quốc phương Nam, còn gọi là vương quốc Giu-đa. Mười bộ tộc còn lại chọn cho mình một vị vua mới, Gia-róp-am và hình thành nên vương quốc phương Bắc, còn gọi là vương quốc Ít-ra-en.
Vương quốc phương Nam có lợi thế là Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Đối lại, vương quốc phương Bắc thiết lập hai đền thánh: đền thánh Ghin-gan ở cực bắc xứ Pha-lê-tinh, bên cạnh một trong những nguồn nước của sông Gio-đan; và đền thánh Bết-En, ở cực nam cách Giê-ru-sa-lem khoảng chừng 15 cây số. Đền thánh Bết-En có ưu điểm là nhắc nhớ tổ phụ Gia-cóp; chính ở nơi đây mà tổ phụ đã có một giấc mơ lưu truyền mãi (một chiếc thang nối liền trời và đất) trong đó ông đã nghe tiếng Đức Chúa phán. Vì thế vị tổ phụ đã gọi nơi nầy là Bết-En, nghĩa là “Nhà của Thiên Chúa”.
Hai đền thánh nầy, cũng như các tư tế phụng sự chúng, hoàn toàn lệ thuộc vương triều, như ông A-ma-xi-a, tư tế đền thờ Bết-En, giải thích cho ngôn sứ A-mốt: “Đây là thánh điện của quân vương, đây là đền thờ của vương triều”.
Vốn là người sinh sống ở vương quốc phương Nam; vị ngôn sứ đã được Thiên Chúa sai đến vương quốc phương Bắc để thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình. Ngôn sứ xuất thân từ một thị trấn miền Bết-lê-hem; ông làm nghề chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung, chính xác là châm những trái nho dại để làm cho chúng trở thành trái ngọt và mau chín (phải chăng đây cũng chính là ý nghĩa sứ mạng ngôn sứ của ông?).
Sứ mạng của vị ngôn sứ thật khó khăn. Ông phải ngỏ lời với dân chúng đang sống trong cảnh thanh bình, thịnh vượng và phú túc. Tuy nhiên, xã hội lắm bất công. Những kẻ lắm tiền nhiều của liên kết với những kẻ có thế có quyền đàn áp những người cùng khổ. Sứ điệp của ngôn sứ gởi đến vương quốc thịnh vượng nầy thật nghiêm khắc: “Chúng ghét người sửa trị nơi cửa công và thù oán kẻ ăn ngay nói thật. Vậy, bởi các ngươi chà đạp kẻ yếu hèn và đánh thuế lúa mì của họ, nên những ngôi nhà bằng đá đẻo các ngươi đã xây, các ngươi sẽ không được ở; những gốc nho ngon ngọt các ngươi đã trồng, các ngươi sẽ không được uống rượu của chúng. Bởi Ta biết tội ác các ngươi nhiều vô kể, tội lỗi các ngươi nặng tầy trời: nào áp bức người công chính, lại đòi quà hối lộ, nào áp bức kẻ nghèo hèn tại cửa công” (5: 10-12). Vị ngôn sứ phẩn uất trước những lễ lạc xa hoa, những đám rước linh đình của những kẻ làm giàu trên xương máu của những người nghèo hèn và nhận thấy ở nơi những lớp võ thịnh vượng vật chất giả tạo bên ngoài là thực chất của một xã hội bất công thối nát. Vào thời buổi nầy, cách xử thế khôn ngoan nhất là “Dĩ hòa vi quý”: “Bởi thế thời buổi nầy, ai cẩn trọng thì làm thinh, vì đây là một thời khốn quẩn” (5: 13). Bởi thế, vị ngôn sứ tuyên sấm tố cáo lối sống gian trá của vương quốc nầy: “Vào ngày Ta trị tội Ít-ra-en Ta sẽ triệt hạ các bàn thờ của Bết-Ên: các sừng của bàn thờ sẽ bị bẻ gãy và quăng xuống đất. Biệt thự mùa đông, biệt thự mùa hè, Ta sẽ triệt phá; điện ngọc đền ngà sẽ sụp đổ, lâu đài dinh thự cũng tan hoang” (3: 14-15).
Quả thật, vị ngôn sứ đã thấy trước mối nguy hiểm của các đạo quân Át-sua và ông ra sức cảnh báo ngõ hầu vương quốc Ít-ra-en thoái khỏi án phạt: “Hãy tìm Đức Chúa thì các ngươi sẽ được sống” và “Hãy tìm kiếm điều lành chứ đừng tìm điều dữ rồi các ngươi sẽ sống”. Ngôn sứ A-mốt không nêu đích danh Át-sua; ông chỉ nói đơn giản “quân thù”: “Quân thù sẽ bao vây lãnh thổ, sẽ triệt hạ sức mạnh của ngươi, và đền đài của ngươi sẽ bị cướp phá…” (3: 11). Rảo khắp các thành thị và đền thánh, vị ngôn sứ cảnh báo: liệu Thiên Chúa sẽ gìn giữ dân của Ngài, nếu dân vẫn cứ ngoan cố trong tội ác của mình? Sấm ngôn của ông càng lúc càng đe dọa. Sấm ngôn của ông sẽ được ứng nghiệm. Vương quốc phương Bắc sẽ sụp đổ dưới những cuộc tấn công của quân đội Át-sua và biến mất vĩnh viễn khỏi lịch sử vào năm 721 BC.
2. Phẩm chất của vị ngôn sứ của Thiên Chúa.
Tư tế A-mát-gia tố cáo vị ngôn sứ với vua Gia-róp-am: “A-mốt âm mưu chống đức vua ngay trên lãnh thổ Ít-ra-en, và đất nước nầy không còn chịu nổi bất cứ lời nào của ông ta nữa. Vì A-mốt nói như thế nầy: Gia-róp-am sẽ chết vì gươm, và Ít-ra-en sẽ bị đày biệt xứ” (7: 10-11). Hoặc thừa hành lệnh vua, hoặc lệnh của mình với tư cách vị tư tế lãnh đạo đền thờ Bết-Ên, A-mát-gia truyền lệnh cho ngôn sứ A-mốt ra khỏi thánh địa nầy mà trở về vương quốc Giu-đa: “Nầy thầy chiêm ơi, mau chạy về đất Giu-đa, về đó mà kiếm ăn, về đó mà tuyên sấm!”.
Tư tế A-mát-gia vu khống ngôn sứ A-mốt khi đồng hóa vị ngôn sứ với các ngôn sứ nghề nghiệp, họ tuyên sấm như một nghề nghiệp để làm ăn, để kiếm tiền. Trước lời vu khống nầy, Ngôn sứ A-mốt đáp lại: ông không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ, nhưng chỉ là người chăn súc vật và chăm sóc cây sung. Chính Đức Chúa “đã bắt lấy” ông khi ông đang làm công việc của mình, nghĩa là Ngài đã gọi ông và sai ông đi thi hành sứ mạng của Ngài mà ông không thể cưỡng kháng được. Đó là cứu thoát dân Ít-ra-en khỏi án phạt của Thiên Chúa sắp đến.
Phải chăng lệnh truyền của tư tế A-mát-gia đã chấm dứt sự vụ của ngôn sứ A-mốt? Chúng ta không biết chính xác; nhưng xem ra sứ mạng của A-mốt chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, sứ điệp của ông vẫn lưu danh muôn thuở.
Ngôn sứ A-mốt là ngôn sứ xưa nhất mà chúng ta vẫn còn gìn giữ được sứ điệp bằng văn tự của ông. Ông đã khai mào độc thần giáo luân lý của truyền thống ngôn sứ bằng văn tự: đưa đạo vào đời. Ở nơi sứ điệp của ông chúng ta gặp thấy âm vang lời dạy của Công Đồng Va-ti-can II trong Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng”: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Ki tô, và không có gì thật sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ. Thật vậy, cộng đoàn của họ được cấu tạo bằng những con người đã được quy tụ trong Chúa Ki tô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành về Nước Cha và đã đón nhận Tin Mừng cứu rỗi đem đến cho mọi người. Vì thế, cộng đoàn ấy mới nhận thấy mình thực sự liên đới mật thiết với loài người và lịch sử loài người” (1).
BÀI ĐỌC II (Ep 1: 3-14)
Vào Chúa Nhật XV nầy, chúng ta khởi sự đọc những đoạn văn chính yếu được trích từ thư thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô.
Thánh Phao-lô đã viết bức thư nầy khi ngài bị giam cầm ở Rô-ma vào những năm 61-63. Chủ đề của bức thư là ý định Thiên Chúa trên nhân loại, được Đức Giê-su mặc khải, thực hiện và trao phó cho Giáo Hội tiếp tục hoàn tất.
1. “Chúc tụng Thiên Chúa…”
Đoạn văn mà chúng ta đọc là phần đầu của bức thư ngay sau lời chào mở đầu. Thánh nhân diễn tả tâm tình tạ ơn theo cách thức cầu nguyện theo truyền thống Do thái, được gọi “berakah”: “Chúc tụng Thiên Chúa”. Dù cá nhân hay cộng đoàn, lời kinh nguyện nầy bày tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa, không trong quan điểm trừu tượng, nhưng luôn luôn vì những ân phúc rõ ràng. “Lời kinh chúc tụng” (Berakah) nầy có thể là lời cầu nguyện tự phát của cá nhân mà những lời kinh “magnificat” cung cấp những điển hình của bà An-na, mẹ ông Sa-mu-en, của ông Tô-bi-a, của Đức Ma-ri-a. Đây cũng là lời kinh nguyện gia đình trước bữa ăn và đặc biệt long trọng vào bữa ăn vượt qua. Đức Giê-su đã đọc “lời kinh chúc tụng” trên bánh và rượu. Sau cùng, lời kinh chúc tụng là hình thức tuyệt vời nhất của kinh nguyện hội đường.
Thánh Phao-lô, trước đây là kinh sư, vẫn trung thành với hình thức ngợi khen nầy. Toàn bộ bài thánh thi nầy kể ra muôn phúc lộc mà Thiên Chúa đã đổ đầy cho nhân loại như chúng ta gặp thấy thánh nhân cũng bắt đầu thư thứ hai gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô như vậy: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi nhân ái, và là Thiên Chúa hằng sẳn lòng ủi an những ai lâm cảnh gian nan khốn khó…” (2Cr 1: 3).
2. Ý định muôn thuở của Thiên Chúa.
Trước tiên, thánh Phao-lô nhắc nhở rằng Thiên Chúa là nguyên lý và nguồn mạch của muôn phúc lộc và Ngài đã chuẩn bị từ muôn thuở kế hoạch của Ngài trên nhân loại.
Chúng ta ghi nhận rằng “lời kinh chức tụng” này bắt đầu với: “Từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ân phúc của Thánh Thần” và được hoàn tất trên viễn cảnh của dân riêng, dân được chọn, được thừa hưởng gia sản được hứa ban, nghĩa là gia sản trên cõi trời. Rõ ràng theo cách thức của thánh nhân, công thức kết thúc chủ ý nhắc lại những gợi ý ban đầu (kỷ thuật đóng khung). Như vậy, chúng ta khởi đi từ cõi trời từ đó đến muôn vàn phúc lộc để gặp lại cùng những thiên ân tối hậu trên cõi trời nầy.
3. Đức Ki tô và chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Chính nhờ Đức Ki tô, Thánh Tử của Người mà chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã được thực hiện.
Trong nhiệm cục xưa, mọi sự đều nhằm chuẩn bị cho cuộc giáng trần của Đức Giê-su; trong nhiệm cục mới, mọi sự đều khởi đi từ Đức Ki tô. Thánh Phao-lô đặt ở trung tâm lời nguyện ngợi khen của mình công trình cứu chuộc. Đối với trí khôn loài người, mặc khải mầu nhiệm nầy hình thành nên một sự khai mở diệu kỳ và “khôn dò”, tròn đầy khôn ngoan (chúng ta nhận ra ở đó một đề tài rất tâm đắc của thánh nhân trong thư gởi tín hữu Ê-phê-sô nầy).
Sau cùng, thánh nhân gợi lên hành động hiệp nhất của Đức Giê-su, Đấng “quy tụ ở nơi Ngài muôn loài trong trời dưới đất”. Động từ Hy lạp “ana-kephalaïô” dịch “quy tụ” được thánh Phao-lô dùng một lần khác trong thư của thánh nhân gởi cho các tín hữu Rô-ma, để nói lên rằng giới luật Đức Ái “thâu tóm” tất cả mọi giới luật khác (Rm 13: 9).
Trong đoạn văn trích từ thư gởi các tín hữu Ê-phê-sô nầy, ý nghĩa cũng như vậy. Đức Giê-su “thâu tóm” toàn thể vũ trụ vì Ngài là cách thức diễn tả cao nhất của toàn thể vũ trụ, mọi loài đều quy hướng về Ngài. Nối tiếp với thánh Phao-lô, từ “thâu tóm” đã đi vào trong từ vựng thần học, nhất là với thánh I-rê-nê, và trở thành đối tượng của biết bao khai triển.
Nói một cách chính xác, thánh Phao-lô không gán cho Đức Ki tô vai trò vũ trụ, nhưng triển khai khái niệm nhiệm thể. Theo cách nầy, thánh nhân đáp lại những quan niệm Do thái, mà ngài đã chống lại rồi trong thư gởi cho các tín hữu Cô-lô-sê, đồng thời cũng đáp trả những quan điểm của phái khắc kỷ.
Trong vài môi trường Do thái, người ta gán cho các thiên thần một vai trò đặc biệt và xem các thiên thần là những người tổ chức vũ trụ. Các Ki tô hữu xuất thân từ Do thái giáo gìn giữ những niềm tin như thế nên giảm nhẹ vai trò của Đức Ki tô. Thánh Phao-lô hiệu đính lại mọi việc.
Đối với phái khắc kỷ, họ thấy trong sự hòa điệu và trật tự của vũ trụ ảnh hưởng sức mạnh thần thiêng. Những cách diễn tả của thánh Phao-lô rất gần với phái khắc kỷ, nhưng thánh nhân loại bỏ tất cả khuynh hướng phiếm thần. Về điểm nầy, thánh nhân định vị mình vào trong truyền thống minh triết Cựu Ước, mượn vài đề tài ở nơi trường phái khắc kỷ nhưng định vị chúng vào trong viễn cảnh của sự siêu việt thần linh (Hc 43: 26-28; Kn 1: 7; 7: 22-23; 12: 1, vân vân).
3. Diễn tiến lịch sử của chương trình Thiên Chúa: khía cạnh Ba Ngôi.
Lúc đó thánh Phao-lô nhắm đến việc diễn tiến trong Lịch Sử chương trình Thiên Chúa trên nhân loại. Các giai đoạn bày tỏ ba hành động của Thiên Chúa: hành động của Chúa Cha, hành động của Chúa Con, hành động của Chúa Thánh Thần.
Trước tiên, thánh nhân gợi lên việc tuyển chọn của Ít-ra-en, dân được Chúa chọn để làm nhân chứng về việc trông đợi Con của Ngài; thánh nhân ngõ lời với các tín hữu gốc Do thái mà ngài kể mình vào trong số họ với đại từ “chúng tôi”: “Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Người, đã tiền định cho chúng tôi đây…”.
Tiếp đó, thánh nhân nói với các tín hữu gốc lương dân bằng đại từ “anh em”: “Trong Đức Ki tô cả anh em nữa, anh em đã được nghe lời chân lý là Tin Mừng cứu độ anh em…”.
Sau cùng, việc sai phái Chúa Thánh Thần một cách nào đó hình thành nên lời cam kết mà Thiên Chúa đã hứa là ban gia nghiệp, nghĩa là được sống bên Ngài để “ngợi khen vinh quang Thiên Chúa”.
Diễn ngữ “ngợi khen vinh quang Thiên Chúa” lập lại đến ba lần như một điệp khúc trong lời kinh chúc tụng nầy. Đó là mục đích tối hậu của chương trình Thiên Chúa: đó là cứu cánh của nhân loại.
TIN MỪNG (Mc 6: 7-13)
Trong chương trước, thánh Mác-cô đã tường thuật việc Đức Giê-su chọn nhóm Mười Hai khi xác định: “Người thiết lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (3: 14). Thánh Lu-ca tường thuật cùng một sự kiện và nói thêm: “Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ” (Lc 6: 13). Thật ra, các thánh ký đã tránh dùng danh xưng “Tông Đồ” nầy – thánh Gioan không bao giờ dùng thuật ngữ nầy – vì danh xưng “Tông Đồ” tức là “người được sai đi” mà chỉ mình Đức Giê-su xứng đáng với tước hiệu nầy: Ngài là Đấng được sai đi từ Chúa Cha. Chung chung các thánh ký thường nói: “nhóm Mười Hai” hay “các môn đệ”.
Sau một thời gian chuẩn bị: “nhóm Mười Hai” đã sống với Ngài, đã lắng nghe giáo huấn của Ngài, đã là những nhân chứng về các phép lại của Ngài, cũng như về sự thất bại của Ngài ở Na-da-rét, Đức Giê-su cho rằng đã đến lúc đặt các ông vào trong thử thách khi sai các ông đi thi hành sứ vụ.
Cử chỉ nầy của Đức Giê-su là một sự mới mẽ. Vào thời của Ngài, các kinh sư quy tụ chung quanh mình một nhóm môn đệ, để chia sẻ cuộc sống của mình; họ không bao giờ nghĩ đến việc sai các môn đệ ra đi và ủy quyền cho các môn đệ một sứ mạng.
Chính Đức Giê-su đích thân sai các ông đi, như sau nầy Ngài sẽ nói với họ trước khi từ giả các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em đi”.
1. Sai đi từng hai người một.
Ngài sai các ông đi từng hai người một. Thánh Mát-thêu đã gìn giữ cho chúng ta nhóm từng hai người một nầy: Phê-rô và An-rê, Gia-cô-bê và Gioan, Phi-líp-phê và Ba-tô-lô-mê-ô, Tô-ma và Má-thêu, Gia-cô-bê và Ta-đê-ô, Si-mon và Giu-đa.
Có phải ở đây Đức Giê-su quan tâm đến tâm lý? Chắc chắn công việc dể dàng hơn nếu có hai người cùng chung sức làm, nhưng cũng vì quy định của Lề Luật theo đó một lời chứng chỉ có giá trị nếu nó được hai nhân chứng cung cấp (cf. Đnl 17: 6; 19: 15; Ds 35: 30); thêm nữa, con số hai cũng là biểu tượng cộng đoàn, nghĩa là các thừa sai không làm việc đơn lẻ mà là làm việc theo từng nhóm.
Các môn đệ sẽ làm chứng từng hai người một về những dấu chỉ của Vương Quốc Thiên Chúa:
- quyền năng trên những thế lực của sự ác,
- siêu thoát khỏi những bận lòng trần thế để nhắm đến những của cải tinh thần.
2. Hành trang của vị thừa sai.
Đoạn những căn dặn của Đức Giê-su nhắm đến hành trang thật gọn nhẹ của các môn đệ, hay đúng hơn không trang bị gì cả: không lương thực, không bao bị, không tiền giắc lưng, không áo để thay đổi. Có vài chi tiết khác biệt giữa các Tin Mừng Nhất Lãm, tuy nhiên bài học thì rõ ràng: đức khó nghèo và sự phó thác hoàn toàn vào ơn Quan Phòng phải là những dấu ấn mà các thừa sai để lại trong lòng mọi người. Phong thái họ cực kỳ đơn giản giống như những lữ khách lòng không vương vấn bất cứ điều gì cả. Họ được mô tả như những khách hành hương luôn luôn sống trong tư thế lên đường, không tìm cách định cư ở một nơi nào nhất định, bởi vì cón có những nơi khác cần đến sứ điệp của họ nữa. Vào lúc dùng bữa sau cùng với các môn đệ, Đức Giê-su sẽ hỏi các ông: “Khi Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không?”. Mọi người đồng thanh đáp: “Thưa không” (Lc 22: 35).
Quả thật truyền thống hiếu khách đông phương tạo cơ hội thuận tiện cho việc thi hành sứ vụ của các các môn đệ trên đường. Tuy nhiên Đức Giê-su căn dặn họ một sự ổn định nào đó: “Khi anh em vào nhà nào mà người ta đón tiếp, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi”.
3. Giũ bụi chân.
Là vị thừa sai đi rao truyền sứ điệp một cách vô vị lợi, nên họ được hưởng quyền tiếp đón một cách vô vị lợi từ những gia đình mà họ viếng thăm. Nhưng Đức Giê-su cũng tiên liệu sứ điệp kêu gọi hoán cải mà họ sẽ ra giảng có thể kéo theo sự khước từ: “Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ”.
Đây là tập tục của người Do thái sau cuộc hành trình trở về. Vào lúc đặt chân lên miền đất Pha-lệ-tinh họ giũ bụi đường khỏi giày dép để không đưa bụi phàm trần vào đất của mình mà họ coi như đất thánh. Trong lời căn dặn của Đức Giê-su, không có bất kỳ một sự khinh bĩ nào đối với những người khước từ sứ điệp, nhưng một ý tưởng tuyệt giao.
Lời rao giảng của các môn đệ chưa trọn vẹn vì họ chưa rao giảng con người của Đức Giê-su – vã lại họ khó hiểu được Ngài vào giây phút nầy – nhưng chỉ chuẩn bị cho các tâm hồn: kêu gọi hoán cải. Như Đức Giê-su, lời rao giảng của họ kèm theo những dấu chỉ: trừ quỷ, xức dầu bệnh nhân và chữa lành bệnh tật.
4. Xức dầu bệnh nhân:
Vào thời Cựu Ước người ta xức dầu để làm dịu vết thương; các tông đồ xức dầu, không như một phương thuốc, nhưng như dấu chỉ biểu tượng của một tác động siêu nhiên. Công Đồng Tren-tô đã thấy trong cử chỉ của các tông đồ nầy một trực giác, một phác thảo bí tích xức dầu bệnh nhân. Thư thánh Gia-cô-bê chứng thực rằng bí tích nầy được thực hành ngay từ thời các tông đồ (Gc 5: 14-15).
Bệnh nhân được chữa lành, ma quỷ bị trục xuất, những cử chỉ của các tông đồ nầy được ghi khắc trong cùng những hàng với các cử chỉ của Đức Giê-su. Các sự dữ được gán cho tội lỗi: việc chúng bị giảm đi loan báo thời đại của lòng Chúa xót thương.
5. Ý nghĩa:
Bài diễn từ sai các môn đệ lên đường nầy rất cổ kính vì ảnh hưởng rất sâu đậm của các phong tục thời xưa. Tuy nhiên sứ điệp của nó rất hiện thực. Tin Mừng được truyền bá bằng những phương tiện tiện nghèo khổ và trao ban một cách vô vị lợi mời gọi mọi người đón nhận nó cũng một cách vô vị lợi. Sứ điệp được đi kèm theo các dấu chứng chiến thắng của Đức Ki tô trên sự Ác và Tử Thần là sứ điệp muôn thuở của bài trình thuật cổ kính nầy.