Tính thánh thiêng của sự sống buộc ta phải kính trọng nó từ lúc mới tượng thai cho tới lúc chết tự nhiên. Đó là giáo huấn của Giáo Hội luôn được Đức Gioan Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI nhấn mạnh trong các năm vừa qua. Trong tuần này, tin tức Công Giáo có hai vấn đề đáng lưu ý thuộc lãnh vực này.
Thử Nghiệm Tiền Sinh
Carlo Belllini, giám đốc phân khoa trị liệu tiền sinh tại Bệnh Viện Đa Khoa của Đại Học Siena, và cũng là thành viên của Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Sự Sống, đã lên tiếng với Hãng Tin Zenit về các giới hạn đạo đức theo đó các thử nghiệm tiền sinh được kể là hợp pháp, đôi khi còn đáng khuyến khích nữa, và lúc nào thì việc ấy nên tránh.
Theo ông, có thể chia các thử nghiệm tiền sinh thành hai loại: loại di truyền học và loại không thuộc di truyền học.
Loại di truyền học thường dùng các thử nghiệm trực tiếp như thử nghiệm nước ối (amniocentesis) và lấy mẫu lông nhung ở màng đệm (chorionic villus sampling) để nghiên cứu thành phần nhiễm sắc thể (chromosomal makeup) của đứa trẻ, nhờ đó, chẩn đoán được các trạng huống như Hội Chứng Down. Loại thử nghiệm di truyền học này cũng có thể có tính gián tiếp, khi dùng siêu âm cơ cấu (structural sonograms) hay phân tích máu người mẹ.
Bellieni nhận định rằng thử nghiệm kiểu di truyền học hiện nay không nhằm chữa trị đứa trẻ. Trong khi ấy, việc thử nghiệm một số điều kiện không thuộc di truyền học, như việc chậm phát triển, thành hình méo mó, hay phôi thai đau đớn chẳng hạn, lại có thể dẫn tới chữa chạy hay chữa trị cả trước khi sinh hay ngay sau khi sinh.
Ông cho rằng: “Việc nghiên cứu tự nó bao giờ cũng là điều tốt”. Tuy nhiên, ông tỏ ra dè dặt đối với những thử nghiệm quen thuộc vốn tạo ra não trạng khiến cha mẹ cảm thấy bị áp lực phải tìm kiếm cách làm sao xác định rõ mình đang mang thai một “đứa trẻ hoàn hảo”.
Dự kiến phá thai
Vị giáo sư này đưa ra một số nguyên tắc cho các gia đình hiện đang đứng trước khả năng có thể dấn thân vào những cuộc thử nghiệm tiền sinh nói trên.
Trước nhất, ông khẳng định rằng “Việc chẩn đoán tiền sinh phải nhằm ý hướng tích cực phục vụ sức khoẻ thai nhi và người mẹ”.
Thống kê cho hay “ý hướng tích cực” này thường không có. Theo tờ Washington Post hồi tháng Chín năm nay, như chính Zenit từng trích lại, đến 90% trẻ chưa sinh được chẩn đoán mang hội chứng Down đã bị phá thai. Trong một bài nhận định về đạo đức sinh học hàng tháng của mình, Cha Tadeusz Pacholczyk, giám đốc giáo dục của Trung Tâm Đạo Đức Sinh Học Quốc Gia Hoa Kỳ đặt trụ sở ở Philadelphia, đã minh xác rằng việc thử nghiệm tiền sinh sẽ hết sức phi luân nếu được làm với ý định trục thai bào thai khi khám phá nó có điều bất bình thường.
Nhưng theo Bellieni, dù không có ý định trục thai đi chăng nữa, thì người ta vẫn có trách nhiệm phải lưu ý tới những nguy cơ có thể có đối với thai nhi. Ông cho rằng cứ mỗi một hay hai trăm thử nghiệm nước ối, lại đã có một trường hợp tử vong cho bào thai.
Bảo vệ sức khoẻ
Mặt khác, như Cha Pacholczyk đã giải thích trong cột báo của ngài, “Việc thử nghiệm tiền sinh là việc được phép, có khi còn đáng ước ao nữa, khi ta thực hiện nó với ý hướng cung cấp cho thai nhi sự can thiệp sớm sủa về y khoa”. Ngài đưa ra trường hợp điển hình về chứng thoái hoá tiệm tiến chất trắng của não bộ (Krabbe’s leukodystrophy) để cho thấy: “người ta có thể chữa trị nó bằng cách cấy (transplant) chất tuỷ xương liền ngay sau khi sinh ra. Nếu nhờ thử nghiệm tiền sinh mà khám phá ra tình trạng này, thì gia đình có thể khởi động việc đi tìm loại tuỷ thích hợp trước cả lúc đứa trẻ sinh ra. Nhờ thế, ta sẽ tiết kiệm được thì giờ quý báu, và việc can thiệp sớm sủa sẽ giúp gia tăng khả năng chữa trị cho đứa trẻ”.
Vị linh mục giáo sư này cũng nhận định rằng người ta có thể chữa trị các chứng bệnh khác như chứng hở ống thần kinh khiến cột sống không thảnh hình toàn diện (spina bifida) ngay khi thai nhi còn trong bụng mẹ. Ngài kết luận: “Việc thử nghiệm tiền sinh nhằm cung cấp tín liệu chẩn đoán cho việc điều trị bệnh nhân còn đang trong bụng mẹ là một việc sử dụng rất đáng khen về phương diện luân lý của kỹ thuật mạnh mẽ này”.
Chuẩn bị sẵn sàng
Cha Bellieni còn cho hay: một hiệu quả tích cực khác có thể có trong việc thử nghiệm tiền sinh là sự thanh thản tâm lý của cha mẹ. Ngài cho hay: trong trường hợp cha mẹ quá căng thẳng âu lo về sức khoẻ di truyền của con mình, ta có thể dùng việc thử nghiệm tiền sinh để làm họ an lòng, nhưng không nên biến việc đó thành thông lệ, tránh tạo nên một não trạng nơi cha mẹ và trong dân chúng coi việc đầu hết phải lo lắng về đứa trẻ là ‘kiểm nghiệm tính bình thường’ của nó.
Giáo sư linh mục Bellieni cũng có lời khuyên đối với các bác sĩ và các nhà chuyên môn thực hành các cuộc thử nghiệm loại này. Ngài thúc giục phải xin sự đồng thuận có hiểu biết của cha mẹ, cho rằng phải làm sao để họ hiểu rõ mục tiêu cũng như các nguy hiểm đi theo cuộc thử nghiệm. Ngài cho hay: “Trong trường hợp chẩn đoán ra bệnh lý, phải giới thiệu người đàn bà hay cặp vợ chồng tới các nhà chuyên môn bệnh lý liên hệ để tìm ra các khả thể chữa trị có thể có và tìm ra bản chất đích thực của vấn đề. Cũng hữu ích nếu ta để các thân nhân cũng như các hiệp hội bệnh nhân liên hệ được nhìn nhận chính thức can dự vào vấn đề này.
Chống lại ý hướng ủng hộ trợ tử
Trong khi ấy, Quốc Hội Lục Xâm Bảo đã bỏ phiếu chấp nhận việc hợp pháp hoá an tử (euthanasia) sau 5 giờ thảo luận vào trung tuần tháng Mười Hai này với 31 phiếu thuận, 24 phiếu chống và 3 phiếu trắng. Tuy dự luật này vẫn còn có thể bị bác bỏ, tránh biến Lục Xâm Bảo thành quốc gia thứ ba của Âu Châu nhìn nhận trợ tử kiểu này, sau Bỉ và Hoà Lan, nhưng Đức Bênêđíctô XVI tỏ ra quan tâm đặc biệt.
Trong cuộc gặp gỡ đại sứ Lục Xâm Bảo, Paul Duh, tại Vatican, Đức Giáo Hoàng bầy tỏ “mối quan tâm sâu sắc nhất liên quan tới bản văn về an tử và trợ tử”. Ngài nhận định rằng
dự luật này tuy có kèm theo các điều khoản nhằm khai triển các biện pháp chăm sóc giúp bệnh nhân có thể chịu đựng được đau đớn nhiều hơn vào giai đoạn cuối cùng của cơn bệnh cũng như đẩy mạnh hệ thống nâng đỡ nhân bản đối với bệnh nhân, nhưng chính bản văn của nó, xét một cách cụ thể, quả đã hợp pháp hoá khả thể kết liễu sự sống”.
Ngài nói tiếp: “Các nhà lãnh đạo chính trị, mà nhiệm vụ vốn là phục vụ thiện ích con người, cũng như các bác sĩ và gia đình, phải nhớ rằng quyết định có suy nghĩ muốn tước đoạt khỏi hữu thể nhân bản vô tội sự sống của họ luôn là điều xấu xét theo quan điểm luân lý, và sẽ không bao giờ hợp pháp cả. Tình yêu và lòng cảm thương đi một con đường khác hẳn thế. Yêu cầu từ trái tim con người đang đương đầu với cơn đau khủng khiếp và cái chết, nhất là lúc họ cảm thấy như bị cám dỗ buông tay theo tuyệt vọng và cảm thấy như rơi tõm xuống vực thẳm muốn tan biến đi, thực ra lại là lời khẩn cầu một ai đó biết đồng hành với họ và là lời khẩn thiết được liên đới và nâng đỡ nhiều hơn trong cơn thử thách ấy. Lời khẩn thiết ấy xem ra rất khó khăn, nhưng nó là phương cách duy nhất xứng đáng với con người nhân bản, và mở ra cả một con đường liên đới mới và sâu sắc hơn, sẽ phong phú hoá và củng cố được các mối dây liên kết gia đình và xã hội”.
Ngỏ lời với nhân dân Lục Xâm Bảo, Đức Bênêđíctô XVI nại tới “các gốc gác Kitô Giáo và nhân ái” của họ và yêu cầu họ tái khẳng định “sự cao cả và tính bất khả xâm phạm của sự sống con người”.
Sự thông qua của Quốc Hội vào ngày 18 tháng Mười Hai vừa qua chỉ là lần biểu quyết đầu tiên (first reading) sau khi dự luật đã được sửa đổi khá nhiều do với văn bản lúc ban đầu. Một lần biểu quyết nữa đang được dự trù.
Đàng khác, quốc trưởng là Đại quận Công Henri từng nói rằng ông sẽ không chấp thuận đạo luật này. Chủ trương của ông đã khiến người ta đưa ra lời kêu gọi sửa đổi Hiến Pháp nhằm tước quyền phê chuẩn luật lệ khỏi tay ông, và chỉ dành cho ông vai trò lễ nghi mà thôi. Việc tu chính Hiến Pháp phải xẩy ra trước khi đạo luật an tử trở thành có hiệu lực.
Thử Nghiệm Tiền Sinh
Carlo Belllini, giám đốc phân khoa trị liệu tiền sinh tại Bệnh Viện Đa Khoa của Đại Học Siena, và cũng là thành viên của Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Sự Sống, đã lên tiếng với Hãng Tin Zenit về các giới hạn đạo đức theo đó các thử nghiệm tiền sinh được kể là hợp pháp, đôi khi còn đáng khuyến khích nữa, và lúc nào thì việc ấy nên tránh.
Theo ông, có thể chia các thử nghiệm tiền sinh thành hai loại: loại di truyền học và loại không thuộc di truyền học.
Loại di truyền học thường dùng các thử nghiệm trực tiếp như thử nghiệm nước ối (amniocentesis) và lấy mẫu lông nhung ở màng đệm (chorionic villus sampling) để nghiên cứu thành phần nhiễm sắc thể (chromosomal makeup) của đứa trẻ, nhờ đó, chẩn đoán được các trạng huống như Hội Chứng Down. Loại thử nghiệm di truyền học này cũng có thể có tính gián tiếp, khi dùng siêu âm cơ cấu (structural sonograms) hay phân tích máu người mẹ.
Bellieni nhận định rằng thử nghiệm kiểu di truyền học hiện nay không nhằm chữa trị đứa trẻ. Trong khi ấy, việc thử nghiệm một số điều kiện không thuộc di truyền học, như việc chậm phát triển, thành hình méo mó, hay phôi thai đau đớn chẳng hạn, lại có thể dẫn tới chữa chạy hay chữa trị cả trước khi sinh hay ngay sau khi sinh.
Ông cho rằng: “Việc nghiên cứu tự nó bao giờ cũng là điều tốt”. Tuy nhiên, ông tỏ ra dè dặt đối với những thử nghiệm quen thuộc vốn tạo ra não trạng khiến cha mẹ cảm thấy bị áp lực phải tìm kiếm cách làm sao xác định rõ mình đang mang thai một “đứa trẻ hoàn hảo”.
Dự kiến phá thai
Vị giáo sư này đưa ra một số nguyên tắc cho các gia đình hiện đang đứng trước khả năng có thể dấn thân vào những cuộc thử nghiệm tiền sinh nói trên.
Trước nhất, ông khẳng định rằng “Việc chẩn đoán tiền sinh phải nhằm ý hướng tích cực phục vụ sức khoẻ thai nhi và người mẹ”.
Thống kê cho hay “ý hướng tích cực” này thường không có. Theo tờ Washington Post hồi tháng Chín năm nay, như chính Zenit từng trích lại, đến 90% trẻ chưa sinh được chẩn đoán mang hội chứng Down đã bị phá thai. Trong một bài nhận định về đạo đức sinh học hàng tháng của mình, Cha Tadeusz Pacholczyk, giám đốc giáo dục của Trung Tâm Đạo Đức Sinh Học Quốc Gia Hoa Kỳ đặt trụ sở ở Philadelphia, đã minh xác rằng việc thử nghiệm tiền sinh sẽ hết sức phi luân nếu được làm với ý định trục thai bào thai khi khám phá nó có điều bất bình thường.
Nhưng theo Bellieni, dù không có ý định trục thai đi chăng nữa, thì người ta vẫn có trách nhiệm phải lưu ý tới những nguy cơ có thể có đối với thai nhi. Ông cho rằng cứ mỗi một hay hai trăm thử nghiệm nước ối, lại đã có một trường hợp tử vong cho bào thai.
Bảo vệ sức khoẻ
Mặt khác, như Cha Pacholczyk đã giải thích trong cột báo của ngài, “Việc thử nghiệm tiền sinh là việc được phép, có khi còn đáng ước ao nữa, khi ta thực hiện nó với ý hướng cung cấp cho thai nhi sự can thiệp sớm sủa về y khoa”. Ngài đưa ra trường hợp điển hình về chứng thoái hoá tiệm tiến chất trắng của não bộ (Krabbe’s leukodystrophy) để cho thấy: “người ta có thể chữa trị nó bằng cách cấy (transplant) chất tuỷ xương liền ngay sau khi sinh ra. Nếu nhờ thử nghiệm tiền sinh mà khám phá ra tình trạng này, thì gia đình có thể khởi động việc đi tìm loại tuỷ thích hợp trước cả lúc đứa trẻ sinh ra. Nhờ thế, ta sẽ tiết kiệm được thì giờ quý báu, và việc can thiệp sớm sủa sẽ giúp gia tăng khả năng chữa trị cho đứa trẻ”.
Vị linh mục giáo sư này cũng nhận định rằng người ta có thể chữa trị các chứng bệnh khác như chứng hở ống thần kinh khiến cột sống không thảnh hình toàn diện (spina bifida) ngay khi thai nhi còn trong bụng mẹ. Ngài kết luận: “Việc thử nghiệm tiền sinh nhằm cung cấp tín liệu chẩn đoán cho việc điều trị bệnh nhân còn đang trong bụng mẹ là một việc sử dụng rất đáng khen về phương diện luân lý của kỹ thuật mạnh mẽ này”.
Chuẩn bị sẵn sàng
Cha Bellieni còn cho hay: một hiệu quả tích cực khác có thể có trong việc thử nghiệm tiền sinh là sự thanh thản tâm lý của cha mẹ. Ngài cho hay: trong trường hợp cha mẹ quá căng thẳng âu lo về sức khoẻ di truyền của con mình, ta có thể dùng việc thử nghiệm tiền sinh để làm họ an lòng, nhưng không nên biến việc đó thành thông lệ, tránh tạo nên một não trạng nơi cha mẹ và trong dân chúng coi việc đầu hết phải lo lắng về đứa trẻ là ‘kiểm nghiệm tính bình thường’ của nó.
Giáo sư linh mục Bellieni cũng có lời khuyên đối với các bác sĩ và các nhà chuyên môn thực hành các cuộc thử nghiệm loại này. Ngài thúc giục phải xin sự đồng thuận có hiểu biết của cha mẹ, cho rằng phải làm sao để họ hiểu rõ mục tiêu cũng như các nguy hiểm đi theo cuộc thử nghiệm. Ngài cho hay: “Trong trường hợp chẩn đoán ra bệnh lý, phải giới thiệu người đàn bà hay cặp vợ chồng tới các nhà chuyên môn bệnh lý liên hệ để tìm ra các khả thể chữa trị có thể có và tìm ra bản chất đích thực của vấn đề. Cũng hữu ích nếu ta để các thân nhân cũng như các hiệp hội bệnh nhân liên hệ được nhìn nhận chính thức can dự vào vấn đề này.
Chống lại ý hướng ủng hộ trợ tử
Trong khi ấy, Quốc Hội Lục Xâm Bảo đã bỏ phiếu chấp nhận việc hợp pháp hoá an tử (euthanasia) sau 5 giờ thảo luận vào trung tuần tháng Mười Hai này với 31 phiếu thuận, 24 phiếu chống và 3 phiếu trắng. Tuy dự luật này vẫn còn có thể bị bác bỏ, tránh biến Lục Xâm Bảo thành quốc gia thứ ba của Âu Châu nhìn nhận trợ tử kiểu này, sau Bỉ và Hoà Lan, nhưng Đức Bênêđíctô XVI tỏ ra quan tâm đặc biệt.
Trong cuộc gặp gỡ đại sứ Lục Xâm Bảo, Paul Duh, tại Vatican, Đức Giáo Hoàng bầy tỏ “mối quan tâm sâu sắc nhất liên quan tới bản văn về an tử và trợ tử”. Ngài nhận định rằng
dự luật này tuy có kèm theo các điều khoản nhằm khai triển các biện pháp chăm sóc giúp bệnh nhân có thể chịu đựng được đau đớn nhiều hơn vào giai đoạn cuối cùng của cơn bệnh cũng như đẩy mạnh hệ thống nâng đỡ nhân bản đối với bệnh nhân, nhưng chính bản văn của nó, xét một cách cụ thể, quả đã hợp pháp hoá khả thể kết liễu sự sống”.
Ngài nói tiếp: “Các nhà lãnh đạo chính trị, mà nhiệm vụ vốn là phục vụ thiện ích con người, cũng như các bác sĩ và gia đình, phải nhớ rằng quyết định có suy nghĩ muốn tước đoạt khỏi hữu thể nhân bản vô tội sự sống của họ luôn là điều xấu xét theo quan điểm luân lý, và sẽ không bao giờ hợp pháp cả. Tình yêu và lòng cảm thương đi một con đường khác hẳn thế. Yêu cầu từ trái tim con người đang đương đầu với cơn đau khủng khiếp và cái chết, nhất là lúc họ cảm thấy như bị cám dỗ buông tay theo tuyệt vọng và cảm thấy như rơi tõm xuống vực thẳm muốn tan biến đi, thực ra lại là lời khẩn cầu một ai đó biết đồng hành với họ và là lời khẩn thiết được liên đới và nâng đỡ nhiều hơn trong cơn thử thách ấy. Lời khẩn thiết ấy xem ra rất khó khăn, nhưng nó là phương cách duy nhất xứng đáng với con người nhân bản, và mở ra cả một con đường liên đới mới và sâu sắc hơn, sẽ phong phú hoá và củng cố được các mối dây liên kết gia đình và xã hội”.
Ngỏ lời với nhân dân Lục Xâm Bảo, Đức Bênêđíctô XVI nại tới “các gốc gác Kitô Giáo và nhân ái” của họ và yêu cầu họ tái khẳng định “sự cao cả và tính bất khả xâm phạm của sự sống con người”.
Sự thông qua của Quốc Hội vào ngày 18 tháng Mười Hai vừa qua chỉ là lần biểu quyết đầu tiên (first reading) sau khi dự luật đã được sửa đổi khá nhiều do với văn bản lúc ban đầu. Một lần biểu quyết nữa đang được dự trù.
Đàng khác, quốc trưởng là Đại quận Công Henri từng nói rằng ông sẽ không chấp thuận đạo luật này. Chủ trương của ông đã khiến người ta đưa ra lời kêu gọi sửa đổi Hiến Pháp nhằm tước quyền phê chuẩn luật lệ khỏi tay ông, và chỉ dành cho ông vai trò lễ nghi mà thôi. Việc tu chính Hiến Pháp phải xẩy ra trước khi đạo luật an tử trở thành có hiệu lực.