Con người mới trong Mùa Chay:
Chấp Nhận và Hy Vọng VChương Năm: Hy VọngTrong cả bốn chương vừa qua, chúng ta đã bàn thảo với nhau về khái niệm Chấp Nhận. Chương Năm sẽ bàn về khái niệm thứ hai của chủ đề Con Người Mới Trong Mùa Chay, khái niệm Hy Vọng.
Nói tới hy vọng, bỗng dưng tôi nhớ lại một khoảng thời gian dài tôi bị vướng vào đời sống tù đày. Vào năm 1979, khi đó mới mười bẩy tuổi, tôi bị bắt sau một lần vượt biên thất bại. Trời tháng Mười Hai lúc đó tối và lạnh. Tôi bị còng tay đẩy vào căn nhà đá của trại tù Gò Công. Sau khi cánh cửa sắt của căn xà-lim đóng lại, tôi thất vọng nằm lăn ra trên nền gạch lạnh ngắt của căn phòng hôi thối bẩn thỉu. Tôi nghĩ tới bị tra khảo, tới mất tự do. “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Tôi tiếc nuối cho giấc mơ về một vùng đất mới với bao nhiêu đèn đường rực rỡ, với một tương lai huy hoàng. Tôi thở dài bởi tôi biết giấc mơ về vùng đất hứa đã hoàn toàn bốc hơi tan loãng vào trong hư không. Bao vây chung quanh tôi lúc bấy giờ là đêm đen của một buổi tối đầu tháng Mười Hai. Ánh đèn mầu vàng từ phía bên ngoài hiu hắt chiếu sáng một góc nhỏ của căn xà-lim. Tôi liếc nhìn hai người tù đang ngồi bó gối im lìm như hai xác chết đói khô trong góc căn phòng. Tôi tiếp tục thở dài! Tôi nghĩ chắc mình sẽ không sống nổi trong tình trạng cơ cực của nhà tù.
Bất chợt tiếng rao hàng tràn đầy sinh lực bên ngoài khung cửa sổ vang lên. Giọng cô gái bán bánh ú bánh tét cao vút, vang xa, len lỏi chui vào căn phòng dầy đặc đêm đen và bóng tối, “Bánh ú, bánh tét đây. Ai bánh ú, bánh tét hôn”? Giọng miền Nam trong trẻo của một đời sống bên ngoài bốn bức tường nhà tù lảnh lót vang dội đêm đen đã đánh thức cả một bầu trời hy vọng trong tôi. Và thế là hy vọng ngập tràn tâm hồn của người tù nhân mười bẩy tuổi. Tôi ngưng thở dài. Tôi bắt đầu hy vọng.
Tôi hy vọng thời gian tù đầy rồi cũng sẽ trôi qua nhanh như một giấc ngủ trưa. Tôi hy vọng mình sẽ không bị nhốt lâu trong căn xà-lim ẩm thấp tối tăm với toàn là rệp và chuột. Hai tuần sau, tôi bị chuyển qua trại tù tỉnh Tiền Giang.
Tôi nhớ lại, trong suốt một khoảng thời gian dài nhọc nhằn với trại tù Tiền Giang, sáng nào cũng vậy, những tia nắng mặt trời bình minh ghé ngang qua khung cửa sổ ân cần hỏi thăm người tù nhân mười bẩy tuổi xanh xao gầy còm vì đói ăn. Những tia nắng của trời cao trở thành niềm hy vọng soi đường dẫn lối cho một khoảng thời gian tăm tối của mất hy vọng trong trại tù. Và bởi hy vọng, tôi sống thoát qua được một khoảng thời gian dài trong trại tù của huyện Gò Công và tỉnh Tiền Giang.
Hy vọng không phải là một danh từ trừu tượng xa lạ. Hy vọng là một danh từ của hiện tại nhưng chỉ về tương lai. Bởi hy vọng vào một ngày mai tươi sáng hơn, những nhọc nhằn và phiền muộn của ngày hôm nay được xoa dịu và trở nên bớt nhọc nhằn, bớt phiền muộn hơn. Cuộc sống tù đày vừa được nêu ra ở trên là một thí dụ cụ thể. Bởi tính chất xoa dịu, hy vọng do đó chính là liều thuốc thần, có khả năng chữa lành những vết thương của tâm hồn và thể xác. Hai người sinh viên, một người, thất bại với bài thi thứ nhất nhưng lại hy vọng đạt được điểm cao hơn trong bài thi kế tiếp, sẽ có cái nhìn về cuộc đời và học đường tích cực hơn so với một người sinh viên cũng bị điểm xấu cho bài thi thứ nhất, nhưng lại không có nhiều hy vọng vào bài thi tiếp theo. Trong khi người sinh viên thứ nhất bắt đầu học hành siêng năng hơn cho bài thi kế tiếp, người sinh viên thứ hai sẽ tiếp tục than thở về thầy về cô cho một lần thất bại của chính mình. Một người mắc bệnh nan y, nhưng hy vọng vào những phương thuốc chữa chạy của y khoa sẽ có thái độ khác về thuốc thang, bệnh tật, và đời sống, so với người bệnh nhân cũng mắc cùng một chứng bệnh nhưng lại có thái độ bi quan và tiêu cực về tình trạng bệnh tật của mình. Trong khi bệnh nhân thứ nhất tích cực đi tìm thầy kiếm thuốc, người bệnh nhân thứ hai tiếp tục đi ra đi vô than ngắn thở dài, hoặc chỉ nằm dài trên giường đợi chờ thần chết xuất hiện dẫn đi.
Trong phạm vi thần học của Mùa Chay, trong Chương Năm, chúng ta sẽ bàn với nhau ba khía cạnh đặc biệt của khái niệm hy vọng, (1) Hy vọng thay đổi tương lai, (2) Tương quan giữa chấp nhận và hy vọng, và (3) Đức Kitô Phục Sinh, Ngài chính là Niềm-Hy-Vọng mới.
I. Hy Vọng Thay Đổi Tương Lai
Bởi hy vọng vào tương lai, cách sống của một người trong giây phút hiện tại có thể thay đổi. Thí dụ, bởi hy vọng vào một tương lai với nhà cao, cửa rộng, vợ đẹp, con khôn, thay vì say mê ngồi dán mắt vào màn ảnh TV hoặc ngớ ngẩn ngồi chatting hơn ba bốn tiếng đồng hồ, học sinh và sinh viên thức đêm học bài, thức khuya làm homework cho những điểm A. Tôi thấy có những cặp vợ chồng hy vọng con cái của mình sẽ có một mớ kiến thức vững chắc hơn làm hành trang đi vào tương lai, cho nên họ hy sinh ngày nắng cũng như ngày mưa cày hai jobs để có nhiều tiền gửi con mình vào những trường trung học tư thục mắc tiền. Ngày thứ Bẩy tuyết đổ cao tới cửa sổ, họ cào tuyết, lái xe ra xa lộ vắng tanh đi làm. Ngày Chúa Nhật mưa rào, họ đội dù ra bến đón xe bus đi làm luôn.
Trong phạm trù tôn giáo, khái niệm hy vọng có một vị thế cũng khá quan trọng trong đời sống đức tin của người Kitô hữu. Bởi vì hy vọng, người tín hữu có thể sẽ thay đổi lối sống đạo của chính mình.
Một người lực sỹ chạy 100 mét của đại hội Thế Vận Hội Olympics, bởi hy vọng đoạt được huy chương vàng vô địch quốc tế, người lực sỹ sáng chiều luyện tập đôi chân, đêm ngày chạy bộ trong vận động trường. Người thương gia buôn ngọc trong Mátthêu 13:44-46, sau khi khám phá ra viên ngọc quý, đã bán tất cả những gì mình sở hữu để chiếm cho bằng được viên ngọc quý giá. Ngược lại, người nhà giầu trong Luca 16:19-31 không có niềm hy vọng vào cuộc sống đời sau. Bởi thế ông ta tiếp tục lối sống ích kỷ, tiếp tục nhắm mắt làm ngơ trước người hàng xóm ghẻ lở đầy mình đang nằm lăn lóc trước cửa nhà. Một cách tương tự, nếu không phải vì sợ mất cõi Thiên Đàng, nhưng mà là hy vọng đoạt được huy chương vàng của Đại Hội Olympics trên Nước Trời, cung cách sống đạo của người Kitô hữu cũng sẽ hoàn toàn đổi khác.
Vài người Kitô hữu giữ đạo trong tâm tình sợ hãi. Họ sợ Thiên Chúa phạt rớt xuống hỏa ngục. Họ sợ chết mất linh hồn. Họ sợ mai này chết đi, giơ tay ra gõ cửa thiên đàng, thánh Phêrô đứng bên trong ngoảnh mặt làm ngơ. Trong tâm tình sợ phải ngồi đếm và bóc lịch đời đời kiếp kiếp a-men ở trong cõi khóc lóc và nghiến răng ken két, họ nhọc nhằn đi xem lễ ngày Chúa Nhật, họ cố gắng nhịn miệng kiêng thịt vào ngày thứ Sáu mùa Chay. Tất cả những điều vừa liệt kê ở trên đây đều đúng, không có gì sai trái. Nhưng thật sự ra họ làm những điều này là bởi vì sợ, sợ chết rớt xuống hỏa ngục! Và nếu đúng là bạn và tôi sợ bị phạt rớt xuống hỏa ngục, chúng ta đang giữ đạo chứ chúng ta không sống đạo.
Một người chỉ giữ luật, nếu biết rằng không có ai đang theo dõi hành động của mình, người này sẽ xé rào phá luật. Trong khi đang lái xe, nếu không thấy bóng dáng của cảnh sát tại ngã tư đèn xanh đèn đỏ, người giữ luật sẽ sẵn sàng vượt đèn đỏ. Ngược lại, một người sống với luật, họ sẽ có thái độ tích cực hơn trong khi đang lái xe. Dù có hay không có bóng dáng của cảnh sát, họ vẫn tuân giữ điều luật căn bản của đèn xanh đèn đỏ, của vận tốc tối đa trên freeway, bởi vì họ tôn trọng luật pháp. Đèn đỏ bật sáng, họ ngừng lại ngay, bởi vì họ quan tâm đến an ninh xã hội và sinh mạng con người. Họ biết, nếu vượt đèn đỏ, họ có thể gây ra tai nạn, cản trở giao thông, và giết hại nhiều người.
Tương tự như vậy, nếu chúng ta sống đạo, chúng ta sẽ tích cực hơn trong đời sống đức tin. Khi sống đạo, chúng ta đi lễ Chúa Nhật vì yêu Chúa, vì muốn được tạ ơn Ngài cho một tuần lễ vừa trôi qua trong thanh bình và trong hạnh phúc. Và ngay cả nếu một tuần vừa qua là một tuần lễ khá nhọc nhằn với nhiều thất bại với nhiều nước mắt nhỏ giọt tuôn rơi, chúng ta vẫn tạ ơn Chúa cho những nhọc nhằn và thất bại này, bởi vì chúng ta tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa quyền năng. Khi sống đạo, chúng ta cẩn thận chọn lựa lời ăn tiếng nói và phương cách hành xử với tha nhân, bởi vì chúng ta hy vọng rằng mình sẽ không bao giờ hóa thành con dê, nhưng mà là con chiên. Để rồi, đến ngày cuối đời, chúng ta hy vọng sẽ được đứng bên tay phải của Thiên Chúa, là phía của những con chiên.
Ngược lại, nếu chỉ giữ đạo vì sợ rớt xuống hỏa ngục, nếu không có người để ý theo dõi, chúng ta sẽ sẵn sàng nhổ rào đi hoang ngay. Cho nên hy vọng vào đời sống Thiên Đàng là một phương cách sống đạo mà chúng ta có thể bắt đầu thực hành trong tâm tình của Con Người Mới Trong Mùa Chay. Bởi chúng ta hy vọng vào nước Thiên Đàng, chúng ta sẽ làm tất cả mọi thứ, bằng mọi giá để chiếm lấy được huy chương vàng 24 carat của Nước Trời, tương tự như người lực sỹ chạy 100 mét của Thế Vận Hội Olympics hoặc người thương gia buôn ngọc. Người lực sỹ Olympics và người thương gia buôn ngọc trong câu chuyện dụ ngôn đã từng hy vọng chiếm được huy chương vàng và viên ngọc quý. Và bởi niềm hy vọng này, cả hai quyết định không ngồi hoặc nằm đợi chờ sung rụng; nhưng họ làm tất cả mọi thứ để biến giấc mơ của họ trở thành sự thật.
II. Tương Quan Giữa Chấp Nhận và Hy Vọng
Chấp nhận và hy vọng thật sự ra có liên quan với nhau. Một trong nhiều lý do khiến cho một người có thể chấp nhận được những lỗi lầm của chính mình là bởi vì người này có niềm hy vọng. Họ hy vọng vào một ngày mai hoặc họ hy vọng rằng những lầm lỗi của họ sẽ được tha thứ và quên đi.
A. Hy Vọng Vào Một Ngày Mai
Tôi đã gặp gỡ rất nhiều người lầm lỡ. Lầm lỡ cho một lần tay trong tay dẫn nhau lên cung thánh. Sau khi chung sống với nhau qua một tuần trăng mật, khuôn mặt của người vợ hoặc người chồng ngọt ngào honey của mình tự nhiên biến dạng. Cũng vẫn khuôn mặt dịu dàng duyên dáng đó mà sao bây giờ không còn duyên dáng dịu hiền như xưa? Cũng vẫn khuôn mặt chữ điền đó mà sao bây giờ người chồng của mình không còn ga-lăng đi ra mở cửa đi vô nhường bước như xưa? Bây giờ không còn là mình ơi hay là em ơi hay là anh ơi nữa! Nhưng lỡ rồi, gạo đã thổi thành cơm. Đã lỡ hứa với Chúa, với Giáo Hội rồi, hai vợ chồng bấm bụng cố gắng sống với nhau. Nếu cả hai, người chồng và người vợ của thí dụ ở trên không có hy vọng vào tương lai và vào những người con, cả hai rất khó mà chấp nhận tiếp tục sống với cái lầm lẫn của mình. Nhưng bởi hy vọng vào “chim kia ăn trái nhãn lồng, lia thia quen chậu, vợ chồng mình quen hơi”, họ bắt đầu tập chấp nhận lẫn nhau, chấp nhận những cái nét dị hợm của nhau. Và từ từ cả hai sẽ lướt qua được những khó khăn chồng chất của thuở ban đầu.
B. Hy Vọng Vào Sự Tha Thứ
Tôi đã gặp rất nhiều người lầm lỡ. Lầm lỡ cho một hành động nông cạn, thiếu suy nghĩ. Nhưng bởi không có hy vọng vào sự tha thứ của cả hai, của tha nhân và của chính mình, họ không thể nào chấp nhận được lỗi lầm của mình. Và đây chính là mẫu số chung của tất cả những nhân vật đặc trưng cho Con Người Cũ.
Vợ chồng chàng Đất và người trưởng nam Cain không bao giờ chấp nhận mình lầm lỗi bởi vì họ không có niềm hy vọng vào sự tha thứ và nhân hậu của một Thiên Chúa từ bi và độ lượng.
Giuđa đã có một lần trong đời tố cạn láng vào trong canh bạc đời, để rồi khi đứng dậy, Giuđa hoàn toàn trắng tay. Nhưng tiếc vô cùng, Giuđa không chấp nhận hòa giải với chính mình bởi vì anh ta không hy vọng rằng Thầy của mình sẽ tha thứ cho một lần anh ta yếu đuối.
Riêng Đavít, người phụ nữ Samaria, người thiếu nữ vô danh, người con hoang đàng, và Phêrô thì khác. Tất cả những con người mới này đều hy vọng vào sự từ bi và tha thứ của Thiên Chúa. Niềm hy vọng vào sự từ bi tha thứ là nguyên nhân chính dẫn dắt Đavít, người thiếu phụ xứ Samaria, người thiếu nữ vô danh trong nhà ông Biệt Phái Simon, người con hoang đàng, và Phêrô đi qua cả bốn giai đoạn của mô hình Khái Niệm của chương Một, để rồi cuối cùng họ biến thành Con Người Mới.
III. Đức Kitô Phục Sinh, Niềm-Hy-Vọng
Đời sống truyền giáo đã tạo rất nhiều cơ hội cho tôi đi đây đi đó, gặp gỡ nhiều người, lắng nghe nhiều câu chuyện.
Vài người ngạc nhiên thắc mắc hỏi tôi là tại sao Chúa lại để cho con người rớt và chìm sâu vào trong vũng lầy của mất hy vọng, của đêm đen, của bóng tối. Và họ hỏi tôi tại sao cuộc đời lại ngập tràn thất vọng?
Sau khi lắng nghe những chia xẻ của những người Kitô hữu, tôi cười, và tôi nói tôi không có câu trả lời cho những câu hỏi về mối tương quan giữa cuộc sống và thất vọng. Nhưng tôi nói rất nhiều với họ về nỗi niềm thất vọng của các môn đệ trong Vườn Cây Dầu, về mầu nhiệm Thương Khó của Đức Kitô, và về Niềm-Hy-Vọng của mầu nhiệm Phục Sinh.
A. Nỗi Niềm Thất Vọng
Tôi nói với họ là vào đêm Đức Giêsu bị bắt trong Vườn Cây Dầu, tất cả những môn đệ của Người đã hoàn toàn mất hy vọng vào Thầy của mình. Bởi thế họ đã bỏ của, bỏ Thầy, bỏ tất cả chạy lấy người. Tuy nhiên, Phêrô vẫn còn chút hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn, cho nên ông đó liều lĩnh đi tới sân Tòa Án Tối Cao của người Do Thái. Nhưng rất tiếc, Phêrô cũng không khám phá ra được điều gì khác hơn ngoài việc ông tự nhiên lại mang lấy phải cái vạ chối Thầy vào người.
Vào khoảng ba giờ chiều của ngày thứ Sáu hôm đó, bầu trời của kinh thành Giêrusalem lúc đó đã tối lại càng tối đen hơn cho những người môn đệ của Đức Giêsu, khi chính họ chứng kiến giây phút cặp mắt thất thần của Đức Giêsu đang từ từ nhắm chặt lại.
Cuối cùng, trong khi đứng nhìn tảng đá của ngôi mộ được ông Giuse Arimáthêa chầm chậm lăn lại che kín một xác chết, mọi người môn đệ của Đức Giêsu biết rằng đã không còn gì để họ hy vọng. Họ hoàn toàn thất vọng vào một tương lai trong Đức Giêsu.
B. Mầu Nhiệm Thương Khó
Về mầu nhiệm Thương Khó của Đức Giêsu, tôi hỏi họ,
— Bạn đang đứng ở đâu trong khi những giọt mồ hôi máu đỏ của Đức Giêsu đang rớt xuống, thấm sâu vào lòng đất đen trong Vườn Cây Dầu? Bạn có nghe thấy tiếng Đức Giêsu đang năn nỉ những người môn đệ thân tín, những người bạn bè ruột thịt thân thiết trong suốt một khoảng thời gian dài là làm ơn cố gắng tỉnh thức để chia xẻ nỗi niềm cô đơn với Ngài hay không? Bạn nghĩ gì khi Đức Giêsu bị bạn bè đâm, không phải là sau lưng nhưng ngay trước mặt, bằng một cái hôn nồng nàn thắm thiết? Bạn thấy gì khi Đức Giêsu bị tất cả mọi người bỏ rơi, đứng chơ vơ giữa một rừng gươm sắc, giáo mác, và những kẻ chống đối Ngài? Trong hoàn cảnh bơ vơ lạc loài này, Đức Giêsu sẽ quay sang ai để tìm kiếm cảm thông, chia xẻ, và an ủi? Bạn có thấy Đức Giêsu, một người vô tội đang bị người ta đánh đập tra khảo vì những tội danh hoang đường vô lý hay không? Bạn có nhìn thấy vòng gai sắc nhọn đang đâm thâu qua đầu Ngài? Máu đỏ lại rơi xuống. Thịt da lại rách tan. Bạn có ước lượng được cây thánh giá đang đè lên vai của Đức Giêsu nặng khoảng bao nhiêu pounds hoặc là bao nhiêu ký hay không? Có thể chúng ta vẫn không bao giờ biết được sức nặng thật sự của cây thánh giá, nhưng ít ra chúng ta biết là cây thập giá nặng lắm, nếu không Đức Giêsu đã không té ngã ba lần dưới sức nặng của hai cây gỗ đan chéo vào nhau. Cả ba lần Đức Giêsu té ngã xuống mặt đường ngập đầy đá sỏi của kinh thành Giêsuralem, bạn đang làm gì? Bạn đứng ở đâu? Bạn có thấy Ngài té ngã xuống mặt đường, và đá sỏi tiếp tục cào rách nát khuôn mặt của Ngài ra không?
Và tôi tiếp tục hỏi,
— Trên đỉnh núi Sọ, bạn có nghe thấy tiếng búa sắc nhọn đang đập xuống những đầu đinh, và những đầu đinh sắc nhọn đang đâm xuyên qua hai chân và hai tay của Đức Giêsu hay không? Bạn có thấy trời đang kéo mây đen che kín đỉnh đồi Calvê hay không? Bạn nghĩ gì khi đất đá của Núi Sọ rung động, mồ mả của những người đã chết bật tung nắp, màn trong đền thờ Giêrusalem xé rách ra làm hai vào giây phút Đức Giêsu nhắm chặt mắt lại? Bạn nghĩ gì khi bộ ngực gầy gò ốm yếu của Đức Giêsu không còn di động lên xuống theo nhịp thở yếu ớt nữa?
C. Mầu Nhiệm Phục Sinh
Nhưng tạ ơn Trời, tạ ơn Đất, tạ ơn Thiên Chúa, bởi vì câu chuyện thất vọng của năm xưa không dừng lại ở đoạn ông Giuse đang từ từ lăn tảng đá che kín lại ngôi mộ đá. Hai ngày sau, sứ thần từ trời cao ngự xuống đẩy tảng đá che kín ngôi mộ của Đức Giêsu sang một bên. Nhờ thế người ta mới biết là ngôi mộ được niêm phong bởi lệnh của Quan Tổng Trấn Philatô tự nhiên trở thành ngôi mộ trống (Mátthêu 27:62-66). Nhờ những người phụ nữ Do Thái dẫn nhau đi ra ngôi mộ vào buổi sáng sớm của ngày hôm đó, người ta mới biết xác Đức Giêsu đã biến mất. Ngôi mộ đá đã lạnh ngắt lại càng trở nên lạnh ngắt với khăn liệm nằm chơ vơ lạc loài (Máccô 16:1-8, Luca 24:12). Nhờ Maria Mađalêna còn vấn vương với ngôi mộ trống sau khi Phêrô và người môn đệ được Đức Giêsu thương mến đã bỏ về nhà, chúng ta mới biết ngôi mộ đá trở nên ngôi mộ trống chính vì Đức Giêsu đã sống lại (Gioan 21:11-18). Và nhờ hai người môn đệ, một người tên là Clêôpas, thất vọng bỏ thành phố Giêrusalem ra đi, chúng ta mới hiểu tại sao ngôi mộ của Đức Giêsu đã trở thành ngôi mộ đá trống (Luca 24:13-35). Nhờ những người môn đệ của Đức Giêsu mất hy vọng bỏ về lại Bắc Galilê tiếp tục hành nghề ngư phủ trên Biển Hồ, chúng ta mới biết Đức Kitô đã thực sự phục sinh, bởi vì Ngài đã hiện ra bên bờ biển vào một buổi sáng sớm, trong khi những người ngư phủ đang thất vọng với khoang thuyền trống vắng không một con cá (Gioan 21:1-14). Nhờ những nhân chứng phục sinh tiên khởi vừa được liệt kê ở trên, chúng ta biết ngôi mộ đá trở thành ngôi mộ trống bởi vì Đức Giêsu đã phục sinh, và Ngài trở thành Niềm-Hy-Vọng cho mỗi người trong chúng ta.
Trong phạm trù Kitô học, Đức Kitô Phục Sinh trở thành Niềm-Hy-Vọng cho mọi người trong chúng ta bởi vì Ngài cũng đã từng thất vọng với cuộc sống. Trong nguyện đường của thị trấn Nazareth, Ngài thất vọng nói, “Không có ngôn sứ nào được chấp nhận nơi quê hương của mình” (Luca 4:24). Trong Vườn Cây Dầu, Ngài buồn phiền thở than, “Lạy Cha! Nếu được, xin cất chén đắng này xa con” (Máccô 14:36). Trên đỉnh núi Sọ, Ngài thất vọng kêu lớn tiếng, “Lạy Chúa! Lạy Chúa! Sao lại bỏ rơi con”?
Cuộc sống nào mà lại không có những nhọc nhằn, những phiền muộn, và những thất vọng? Đức Giêsu cũng đã từng thất vọng, nhưng Ngài không bao giờ tuyệt vọng. Lúc nào Ngài cũng chấp nhận và tin tưởng vào bàn tay quan phòng diệu kỳ của Thiên Chúa quyền năng, mặc dù Ngài thất vọng vào đám đông của thị trấn Nazaret, những người đồng hương đang bịt mũi khinh bỉ gốc gác thợ mộc của Ngài. Lúc nào Ngài cũng hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn rực rỡ hơn, dù rằng Ngài đang bị mọi người bỏ rơi trong Vườn Cây Dầu. Lúc nào Đức Giêsu cũng hy vọng vào Nước Trời mặc dù ánh mắt của Ngài đang lạc thần, mờ đi, và xám đen lại vào khoảng 3 giờ chiều của ngày thứ Sáu hôm đó. Và đúng như Ngài đã từng tin tưởng, chấp nhận, và hy vọng, cuối cùng Ngài đã sống dậy từ trong kẻ chết, và
Ngài đã trở thành Đức Kitô Phục Sinh. Ngài trở thành Niềm-Hy-Vọng cho mỗi người Kitô hữu chúng ta về một cuộc sống với niềm hy vọng vào một Thiên Chúa quyền năng nhưng nhân hậu; niềm hy vọng vào huy chương vàng 24 carát đính ngọc quý, phần thưởng cao quý của Đại Hội Olympics trên Nước Trời dành cho người biết chấp nhận và hy vọng.
IV. Con Người Mới Trong Mùa Chay: Chấp Nhận và Hy Vọng
Bạn thân,
Ai trong chúng ta lại chẳng có những lúc sống với thất vọng, với tuyệt vọng? Ai trong chúng ta lại chẳng có những giây phút hoàn toàn mất tin tưởng vào ngày mai bởi vì giấc mơ của mình trong vòng bao nhiêu năm vừa chợt sụp đổ như hai tòa nhà cao ngất trời của Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế đang từ từ sụp đổ vào một buổi sáng mùa thu ngày 11 tháng 9 năm 2001? Ai trong chúng ta chẳng có những lúc bừng con mắt dậy, thấy mình trắng tay? Tương tự như Giuđa và Phêrô đã từng một lần cảm nghiệm, giờ này chúng ta mất hết, bây giờ chúng ta trắng tay!
Bạn thân,
Những mất mát trong cuộc sống khiến ai chẳng cảm thấy buồn phiền tiếc nuối. Cách đây khá lâu, có rất nhiều người cũng đã cảm nghiệm được sự mất mát to lớn cho một giấc mơ. Nhìn hòn đá đang từ từ che kín ngôi mộ, nhiều người có cảm tưởng mình đang lăn tảng đá chôn lấp giấc mơ của chính mình. Còn gì nữa mà mơ! Có người bỏ về làng tiếp tục nghề đánh cá. Có người âm thầm ngồi than khóc trong bóng tối. Có người treo cổ tự sát.
Cuộc sống là một tổng hợp của những buồn và vui, khóc và cười, mất và được. Có những lúc nổi giận, đốt hết. Có những lúc từ bi, thứ tha. Có những lúc mất hết, trắng tay. Những mất mát trong đời là một phần của cuộc sống. Chấp nhận mất mát cũng như chấp nhận ánh sáng ban ngày và bóng tối ban đêm. Chấp nhận mất mát cũng như chấp nhận mình đang còn trẻ và mình cũng đang già. Chấp nhận mất mát cũng như chấp nhận mình là con của bố và của mẹ, có những người chị, người anh, và người em.
Nhưng chấp nhận không thì cũng chưa đủ. Phải hy vọng, hy vọng vào một ngày mai tươi sáng hơn, rực rỡ hơn. Hy vọng như người con hoang đàng, hai người phụ nữ, một người bên giếng nước Giacóp, một người trong nhà ông Biệt Phái Simon, đã hy vọng những dĩ vãng những lỗi lầm của mình sẽ được quên đi, sẽ được xóa nhòa. Hy vọng như Phêrô đã từng hy vọng là mình sẽ được thứ tha. Thất vọng như Giuđa đã từng tuyệt vọng vào một ngày mai. Cành cây bên vệ đường là nơi người mất hy vọng tìm đến. Một sợi dây treo lên, một mạng người rớt xuống. Hy vọng như hai người môn đệ trên đường Emmau. Vào một buổi sáng mùa Xuân, có hai người mất hy vọng đang đi với nhau. Nhưng Niềm-Hy-Vọng đã tới với họ. Niềm-Hy-Vọng chuyện trò với họ. Và bởi Niềm-Hy-Vọng, họ quyết định quay về Giêrusalem, thành phố của mất hy vọng. Họ quay về để tạo dựng lại một niềm hy vọng mới. Bao nhiêu người chứng kiến cảnh tảng đá đang từ từ chôn lấp một xác chết. Họ thất vọng. Họ cảm nghiệm đắng cay cho một mất mát. Nhưng rồi họ lại hy vọng, hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn. Cuối cùng đúng như họ mơ ước Mùa Hy Vọng của Kitô Giáo đã tới gần hai ngàn năm.
(Còn tiếp)
Để lắng nghe CD Con Người Mới trong Mùa Chay: Chấp Nhận và Hy Vọng, xin mời ghé vào,
www.nguyentrungtay.com/cnmoi.html