Con người mới trong Mùa Chay:
Chấp Nhận và Hy Vọng IIIChương ba: Con người mới
Con người mới ở đây không phải là con người mặc áo mới. Sáng Mùng Một Tết, cha mẹ con cái mặc quần áo mới tụ họp trong căn phòng khách. Con cái chúc tuổi bố mẹ trong bộ quần áo mới. Bố mẹ trong bộ quần áo mới lì xì chúc cho con cái đạt được nhiều thành công may mắn hơn trong năm mới. Thanh niên, tóc dài vô tiệm cắt tóc cho một mái tóc mới. Thiếu nữ, trước một buổi dạ vũ, vô tiệm làm đầu chải tóc cho một khuôn mặt mới. Thanh niên thiếu nữ, trước khi đi chơi với tình nhân tình lang, đặc biệt là trong những giây phút quyết liệt, cần phải chiếm lấy trái tim của người đối diện, chúng ta mặc quần áo mới. Những thứ quần áo mới của ngày Tết, của hẹn hò, hoặc mái tóc mới không phải là cái mới mà chúng ta sẽ bàn thảo với nhau trong Chương Ba. Con người mới trong Chương Ba là con người mới bởi họ biết chấp nhận lỗi lầm, họ xin lỗi, và họ tha thứ cho những lỗi lầm của mình.
I. Con Người Mới: Chấp Nhận Những Lỗi Lầm Mình Đã Mắc Phải/Đavít: Con Người Mới Biết Mở Miệng Xin Lỗi
Trong khi con người cũ không chấp nhận lỗi lầm, con người mới chấp nhận lỗi lầm, và họ mở miệng xin lỗi.
Theo như 2Samuen 11—12, vào một buổi chiều tối, vua Đavít đang đi dạo trên lâu đài. Cúi xuống nhìn, người thanh niên trẻ tuổi Đavít thấy một người đàn bà đang tắm. Nhà vua sai người điều tra thân thế của nàng. Hóa ra người đàn bà này đã có chồng. Tên nàng là Bát-sê-ba, vợ của U-ri-a, một người lính của nhà vua đang hành quân vùng đầu hỏa tuyến. Biết người đàn bà đã có chồng, nhưng Đavít vẫn sai người mang nàng vào cung điện. Sau đó, vị vua trẻ tuổi trả nàng về lại nhà. Bình thường ra sẽ chẳng có ai biết câu chuyện này, nếu một thời gian ngắn sau đó người đàn bà không gửi tới nhà vua một lá thư rất ngắn. Trong lá thư ngắn gọn này, Bát-sê-ba chỉ viết vỏn vẹn có mấy chữ, “Tôi đã có thai” (2Samuen 11:5). Có lẽ hơi rối trí, nhà vua gọi U-ri-a từ chốn trận mạc trở về kinh thành. Nhưng U-ri-a, chồng của Bát-sê-ba lại không chịu về nhà ở với vợ. Người lính ngày ngày chỉ loanh quanh luẩn quẩn nơi doanh trại. Nhận được bản tin, Đavít tìm cách phục rượu cho người lính say. Nhưng rất tiếc say thì say, U-ri-a vẫn nhất quyết không về nhà với vợ. Đã rối lại càng rối hơn, cuối cùng Đavít truyền lệnh cho người lính U-ri-a quay trở lại chốn sa trường với một lá thư gửi cho tướng Gioab. Nhận được lá thư, tướng Gioab gửi người lính U-ri-a ra điểm nóng nhất của mặt trận biên giới. U-ri-a cuối cùng mất mạng! Nhận được tin U-ri-a đã chết, vua Đavít mang người đàn bà vào cung. Bát-sê-ba sinh cho vị vua một người con trai. Người tuổi trẻ tưởng rằng những chuyện mình đã làm sẽ không một ai hay biết. Nhưng rất tiếc vào một ngày kia, ngôn sứ Nêthân tiến vào cung điện hạch tội của nhà vua. Đứng trước mặt ngôn sứ Nêthân, người đại diện cho Thiên Chúa, không chối quanh co, không chỉ ngón tay vào bất cứ một người nào khác, Đavít thú nhận,
— Trẫm đã mắc tội với Thiên Chúa (2Sam 12:13).
Nếu Đavít không nhận lỗi, không chấp nhận mình đã có lỗi với U-ri-a, với vợ của ông ta, và với Thiên Chúa, không biết kết quả của câu chuyện sẽ ra sao. Nhưng, trước lời nhận lỗi của Đavít, ngôn sứ Nêthân nói,
— Thiên Chúa đã tha thứ lỗi lầm của nhà vua… (2Sam 12:13).
II. Con Người Mới: Họ Hòa Giải Với Chính Họ
Nét đặc thù thứ hai của con người mới là sau khi họ đã chấp nhận lỗi lầm của chính mình, họ tha thứ và hòa giải được với chính mình. Đây là một nét khá đặc biệt của con người mới.
A. Người Đàn Bà Xứ Samaria (Gioan 4:4-42)
Theo như Gioan 4:4-42, vào một ngày kia từ Giuđê, Đức Giêsu quyết định chọn con đường ngắn nhất để quay về Galilê bằng cách đi ngang qua xứ Samaria. Vào giờ thứ sáu, mười hai giờ trưa, Ngài và các môn đệ đặt chân tới thành phố Sai-kar. Trời nắng, mệt mỏi bởi con đường thiên lý, Ngài ngồi nghỉ ngay bờ giếng của Giacóp trong khi các môn đệ của Ðức Giêsu vô trong thành phố mua thức ăn.
Trong khi đang ngồi tại bờ giếng, Ngài thấy một người đàn bà xứ Samaria đi tới bờ giếng. Ngài nói,
— Cho tôi xin miếng nước.
Người đàn bà Samaria thắc mắc,
— Tại sao ông, một người Do Thái, lại mở miệng nói với tôi, một người phụ nữ Samaria, “Cho tôi xin miếng nước”?
Câu chuyện giữa Đức Giêsu và người phụ nữ tiếp tục cho đến khi Ngài nói,
— Cô hãy về và gọi chồng cô ra đây.
Người phụ nữ xứ Samaria trả lời,
— Tôi không có chồng.
Đức Giêsu nói,
— Cô nói rất đúng là cô không có chồng, bởi vì cô đã có năm người chồng, và người đàn ông hiện nay cô đang chung sống không phải là chồng của cô. Cô nói rất đúng (Gioan 4:18).
1. Giếng Nước Trong Văn Hóa Do Thái
Để hiểu rõ câu chuyện giữa Đức Giêsu và người phụ nữ xứ Samaria, chúng ta cần phải hiểu rõ phong tục địa phương và vị thế của giếng nước đầu làng trong nền văn hóa của Trung Đông vào thế kỷ thứ nhất của Công Nguyên.
Theo như thánh sử Gioan, người phụ nữ Samaria đi ra giếng nước một mình và đi vào buổi trưa.
Chúng ta biết nước của giếng vào buổi trưa không mát như buổi sáng hay buổi chiều, đặc biệt trong vùng sa mạc. Thông thường, phụ nữ Do Thái trong làng người ta đi ra giếng vào buổi chiều, và họ đi thành từng nhóm để tránh tình trạng bị những người đàn ông làm phiền. Bên Việt Nam, quán nước đầu làng là nơi người ta ghé vào, nghỉ ngơi, và hỏi thăm tin tức về những người trong làng. Tương tự như vậy, giếng nước của người Do Thái cũng là một nơi dừng chân nghỉ ngơi cho những người lữ khách. Nếu họ muốn tìm kiếm một người thân trong làng, họ ghé lại giếng nước; thí dụ, tại một giếng nước thuộc miền Aram Naharaim, người hầu thân cận của Ábraham đã dừng chân lại hỏi thăm Rebecca, người vợ tương lai của Isaac (Sáng Thế Ký 24:10-27). Giacóp trong một trường hợp tương tự cũng đã hỏi thăm và gặp người em gái họ Rachel tại giếng nước thuộc miền Haran (Sáng Thế Ký 29:1-14).
2. “Tôi Không Có Chồng”, Câu Nói Của Hòa Giải
Nhưng người phụ nữ lại đi ra giếng nước buổi trưa và đi một mình. Một trong những lý do để giải thích hiện tượng lạ lùng này là có thể tại vì người phụ nữ muốn tránh né gặp gỡ những người hàng xóm, hoặc cũng có thể gặp trường hợp bất ngờ thiếu nước dùng trong nhà, cho nên cô ta đã đi ra giếng buổi trưa và đi một mình. Tuy nhiên lời nói của Đức Kitô, “Cô nói đúng cô không có chồng bởi cô đã có năm đời chồng, và người hiện đang sống với cô không phải là chồng cô” đã gián tiếp trả lời cho độc giả của Kinh Thánh biết lý do nào đã khiến người phụ nữ chọn đi ra giếng nước buổi trưa và đi một mình.
Có một chi tiết mà thông thường chúng ta ít chú ý tới khi nghe lời đối thoại giữa Đức Giêsu và người đàn bà xứ Samaria. Câu nói “Cô hãy về nhà gọi chồng cô ra đây” là một câu nói hơi đường đột, và bất lịch sự.
Titanic là một bộ phim nổi tiếng dài ba tiếng lấy biết bao nhiêu giọt nước mắt của khán giả. Sau khi cứu nhân vật nữ Rose thoát khỏi cảnh hiểm nghèo, sáng hôm sau, Jack Dawson và Rose gặp gỡ nhau. Chuyện qua chuyện lại, bất ngờ Jack nhắc đến vị hôn phu của Rose. Anh chàng Jack hỏi,
— Cô có yêu vị hôn phu của cô hay không?
Ngỡ ngàng trước câu hỏi quá đường đột, thẳng như ruột ngựa đó, Rose khó chịu,
— Anh là một người bất lịch sự. Tôi không biết anh. Anh không biết tôi… Anh hỏi tôi một câu anh không nên hỏi. Anh đúng là một người bất lịch sự…
Hai người, Jack và Rose, chỉ mới một lần gặp nhau. Dù rằng chàng thanh niên Jack đã có cử chỉ hào hùng cứu lấy mỹ nhân Rose, nhưng thật sự ra, hai người vẫn không chưa trở thành thân cho lắm để tâm sự hoặc chia xẻ riêng tư.
Chuyện vợ chồng trong nền văn hóa nào cũng là một câu chuyện riêng tư mà một người lịch sự không nên mở miệng hỏi, trừ khi người đối diện tự động nhắc đến. Gặp một người phụ nữ sơ giao trong một bữa tiệc, một người con trai lịch sự không bao giờ hỏi, “Cô đã có chồng chưa? Cô được mấy cháu rồi?” Câu này là một câu hỏi thiếu tế nhị, bởi nó có thể bị người đối diện hiểu lầm.
Khi gặp một người đàn ông và một người đàn bà đang đứng nói chuyện với nhau nơi đồng không mông quạnh, rất khó cho chúng ta không có những tư tưởng xấu về họ. Chắc chắn chúng ta sẽ không nghĩ là hai người này đang tranh luận hoặc bàn thảo về chuyện tôn giáo, chính trị, hay là họ đang lần hạt Mân Côi chung với nhau.
Thế mà giữa đồng không mông quạnh gần thành phố Sai-kar, Đức Giêsu gợi chuyện với người phụ nữ Samaria. Sau cùng Ngài hỏi người đàn bà lạ mặt một câu hỏi về đời sống riêng tư của bà, “Hãy về và gọi chồng cô ra đây”.
Trước tình cảnh này, người phụ nữ xứ Samaria có ba chọn lựa.
Thứ nhất, có thể cô ta sẽ nói,
— Ông là một người bất lịch sự. Ông không biết tôi. Tôi không biết ông. Ông hỏi tôi một câu hơi thiếu tế nhị. Tôi từ chối trả lời câu hỏi này bởi ông là một người bất lịch sự.
Thứ hai, người đàn bà có thể chọn lựa im lặng không nói gì bởi câu hỏi của Đức Giêsu hơi đường đột, quá bất ngờ.
Thứ ba, người đàn bà xứ Samaria chọn lựa trả lời câu hỏi của Ðức Giêsu.
Theo như thánh sử Gioan, cuối cùng cô ta chọn, chọn lựa thứ ba, bởi cô nói,
— Tôi không có chồng.
Trong khía cạnh hòa giải, “Tôi không có chồng” là câu nói mà người phụ nữ đang nói với chính cô ta chứ không phải ai khác. Bị chất vấn, bị đặt vấn đề, người thiếu nữ cuối cùng chọn lựa thành thật với chính mình. Thứ nhất, cô chấp nhận có một thời cô đã sống trong tội lỗi. Thứ hai, người phụ nữ Samaria hòa giải với chính mình bằng cách thú nhận với cô rằng người đàn ông cô đang sống chung không phải là chồng của mình. Bởi thế cô mới bật miệng nói, “Tôi không có chồng”. Câu nói này, cô ta nói với chính mình. Thứ ba, “Tôi không có chồng” cũng là câu trả lời cho câu hỏi của người khách lạ mặt, câu nói hòa giải với Thiên Chúa qua hình ảnh của Con Một Của Người là Ðức Kitô.
Chỉ trong một câu nói đơn giản, ngắn gọn bốn chữ, “Tôi không có chồng”, người phụ nữ xứ Samaria vô danh đã bước qua liền một lúc ba giai đoạn của Mô Hình Chấp Nhận, chấp nhận lỗi lầm, chấp nhận hòa giải với chính mình, và chấp nhận hòa giải với Thiên Chúa.
Và cuộc đời cô ta đổi thay sau hành động hòa giải này. Người phụ nữ bỏ lại bên bờ giếng bình đựng nước. Chạy về làng, cô gọi những người trong thôn làng ra gặp Đức Giêsu. Người trong thôn làng, theo lời mời gọi của cô ta, chạy ra bờ giếng. Họ gặp gỡ người khách lạ bên giếng nước, và họ trở thành những người Kitô hữu. Bỏ lại bên bờ giếng bình đựng nước và chạy về làng gặp người trong thôn xóm là hai hình ảnh tượng trưng cho hành động chấp nhận đóng lại một trang sách cũ, mở ra một trang sách mới. Khi người đàn bà đi ra bờ giếng, cô ta mang theo trên người bình đựng nước tượng trưng cho một quá khứ nặng nề đè nặng trên vai. Ði ra giếng, người phụ nữ đi một mình. Khi bỏ lại bình nước bên bờ giếng, người phụ nữ Samaria chấp nhận bỏ lại sau lưng một trang sách cũ. Cô đóng lại trang sách của quá khứ để mở ra trang sách mới. Trong trang sách mới này, cô gặp gỡ những người dân trong làng mà có lẽ có một thời cô tránh né không muốn gặp mặt.
Người phụ nữ Samaria trong câu chuyện của Gioan 4:1-42 đã đi qua cả bốn giai đoạn của Mô Hình Chấp Nhận. Cô là một mẫu người điển hình của con người mới trong Mùa Chay.
Ngoài người phụ nữ Samaria, chúng ta cũng còn một câu chuyện trong Phúc Âm về một người thiếu nữ khác. Người này cũng đã chấp nhận và hòa giải với chính mình.
B. Người Thiếu Nữ Vô Danh và Người Biệt Phái Simon (Luca 7:36-50)
Theo như Luca 7:36-50, một ngày kia Đức Giêsu được người Biệt Phái Simon mời đến nhà dùng tiệc. Trong khi tiệc đang diễn ra, bất ngờ có một người thiếu nữ tội lỗi trong thành phố bước vào nhà với một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Người thiếu nữ đứng sau lưng Đức Giêsu. Và rồi cô quỳ xuống khóc. Những hạt nước mắt rớt lên chân của Ðức Giêsu. Sau cùng cô lấy tóc lau chân và lấy dầu thơm đổ lên chân của Ngài. Ông Biệt Phái Simon hơi khó chịu trước tình huống đang xảy ra trong căn phòng ăn của nhà mình. Biết vậy Đức Giêsu kể cho ông Simon nghe một câu chuyện. Sau cùng Ngài nói với ông,
— Tội lỗi của người thiếu nữ này thì nhiều, nhưng cô ta đã được tha, bởi vì cô ta yêu rất nhiều.
Theo như phong tục của người Do Thái, trong giai đoạn kinh nguyệt, người phụ nữ sẽ khiến cho tất cả đồ vật và những người mà họ tiếp xúc, gặp gỡ trở thành ô uế. Cho nên người Do Thái tránh, không muốn giao tiếp với người phụ nữ hoặc mời họ vào nhà của mình, bởi không ai biết lúc nào người đàn bà đang có kinh nguyệt. Cũng bởi vì kinh nguyệt, một người phụ nữ không bao giờ được phép tự động bước vào căn nhà của một người lạ.
Ngoài lý do kinh nguyệt, một người tội lỗi, bất luận nam hay nữ, cũng không được phép bước chân vào nhà của những người hàng xóm, bởi cái bóng râm tội lỗi của họ cũng sẽ khiến căn nhà trở nên ô uế.
Người phụ nữ vô danh tên gì, cô ta có tội chi, thánh sử Luca không nhắc tới. Nhưng biết Đức Giêsu đang hiện diện trong căn nhà của người Biệt Phái Simon, cô ta vẫn bước tới. Cô biết khi thấy bóng dáng của mình lấp ló nơi cửa, có thể ông Biệt Phái sẽ mời cô ta bước đi ngay. Tại sao? Tại vì ông không muốn căn nhà của mình trở nên ô uế bởi vì người khách không được mời này là một người phụ nữ và lại là một người tội lỗi. Biết là vậy, nhưng cô vẫn đi tới để gặp cho bằng được Đức Giêsu. Hành động quyết tâm này nói lên hai điều. Thứ nhất cô chấp nhận lỗi lầm của mình. Thứ hai cô hòa giải với chính mình.
Làm sao chúng ta có thể nói người con gái này đã bước qua được hai giai đoạn đầu tiên của Mô Hình Chấp Nhận? Rất đơn giản, bởi cô can đảm bước vào nhà của người Biệt phái Simon mặc dù cô biết có thể người ta sẽ xua đuổi mình khi thấy bóng dáng của cô trước sân nhà. Nếu cô không dám đối diện với chính mình, không chấp nhận lỗi lầm của mình, cô sẽ không dám bước vào nhà của ông Simon. Hành động can đảm bước vào nhà của người Biệt phái cũng nói lên một điều khác, đó là cô đã tha thứ, hòa giải được với những lỗi lầm của mình trong quá khứ.
Khi gặp Đức Giêsu, cô khóc. Những giọt nước mắt là một trong những phương cách biểu lộ lòng thống hối của mình. Nước mắt là một trong những bằng chứng nói cho mọi người biết cô chấp nhận đã có một thời cô sống với và sống trong lỗi lầm. Trước khi người phụ nữ có thể khóc, cô ta đã nhận ra được những lỗi lầm của mình trong quá khứ. Bởi vậy cô khóc. Từ lúc bước vô cho tới khi bước ra khỏi nhà ông Biệt Phái, cô không nói một lời. Cô cũng không đổ lỗi cho ai, nhưng cô khóc.
Sau cùng, cô ra về, ra về trong bình an.
Khi người con gái bước vào nhà, một quá khứ ngập tràn trong tâm hồn. Khi người con gái bước ra khỏi cánh cửa, một khoảng trời mới đang chờ đón cô.
Người con gái vô danh này đã bước qua được cả bốn giai đoạn của khái niệm Chấp Nhận.
(1) Cô bước vào nhà của người Biệt Phái Simon tìm kiếm Đức Giêsu và cô khóc, những hành động này nói lên được hai điều, cô đã chấp nhận mình đã có lỗi lầm, đồng thời, cô ta chấp nhận hòa giải với cô ta.
(2) Bởi tha thứ được cho lỗi lầm của mình, cô ta vượt qua được phong tục Do Thái, đặt những bước chân đầu tiên vào nhà của ông Biệt Phái.
(3) Sau cùng cô tìm kiếm sự hòa giải với Thiên Chúa qua hình ảnh của Đức Giêsu.
(4) Cuối cùng cô bước đi ra khỏi nhà trong bình an sau khi Đức Giêsu tha thứ và chúc bình an cho cô. Cô không khóc nữa, bởi cô đã đóng lại một trang sách cũ, mở ra một trang sách mới.
C. Người Con Hoang Đàng (Luca 15:11-32)
Cũng theo Luca 15:11-32, tại một thành phố, một người cha có hai người con trai. Người con trai thứ một hôm đến đòi chia gia tài. Trước yêu cầu của người con, người cha cũng không nói gì nhưng chia hết phần tài sản thuộc về cậu Út cho người con quý tử. Cậu Út lấy phần sản nghiệp của mình, rồi bỏ đi lang thang. Cuối cùng phần gia sản được chia cũng tan biến theo mây theo khói. Không may cho cậu, vào đúng ngay lúc đó, thiên tai kéo tới thành phố nơi Cậu Út đang ở. Thế là cậu đói! Đói! Cậu phải đi chăn heo. Đói! Cậu muốn lấy thức ăn của heo ăn. Nhưng rất tiếc cũng chẳng ai cho. Cuối cùng Cậu Út quyết định metánoia. Cậu quay về nhà.
Câu chuyện Người Con Hoang Đàng là một câu chuyện nổi tiếng. Gần như ai cũng biết. Nhưng không mấy người chú ý đến một số chi tiết liên quan đến khái niệm chấp nhận được trình bày trong câu chuyện. Trước khi quyết định quay về lại căn nhà xưa, Cậu Út nói,
— Tôi sẽ quay về nhà cha tôi. Tôi sẽ nói với người, “Con đã phạm tội đến trời và đến cha. Con không còn đáng được gọi là con cha nữa” (Luca 15:18-19).
Câu nói này Cậu Út không nói với ai hết nhưng với chính cậu ta. Sau đó Cậu Út lên đường trở lại căn nhà xưa. Khi gặp người cha, người tuổi trẻ nói với thân phụ của mình nguyên văn câu nói cậu đã nói với chính mình trước đây (Luca 15:21).
Câu nói của Cậu Út nói với chính mình là một câu nói hòa giải. Người thanh niên không hòa giải với bất cứ một người nào khác vào giây phút đó, nhưng với chính cậu ta. Bởi Cậu Út hòa giải được với mình, cậu bước sang giai đoạn thứ ba của Mô Hình Hòa Giải. Lần này cậu hòa giải với người mà cậu đã lầm lỗi.
Nhưng trước khi cậu ta có thể hòa giải được với chính mình, người con hoang đàng phải chấp nhận được một điều đó là mình đã lỗi lầm, giai đoạn thứ nhất của Mô Hình Chấp Nhận. Theo như thánh sử Luca, trong tình trạng gần chết đói, cậu Út than thân trách phận, thở than với chính mình, “Biết bao nhiêu là người làm công cho cha tôi có dư thừa bánh ăn, mà ở đây tôi lại đang chết đói” (Luca 15:17).
Người thanh niên không đổ lỗi cho bất cứ ai cho tình trạng cùng đường của mình, bởi cậu biết không ai ép buộc cậu phải cất bước ra đi. Người con thứ biết cậu chính là người đã gây ra họa, đã góp phần vào tạo dựng nên hoàn cảnh cơ cực lầm than của mình. Cho nên, sau khi chấp nhận lỗi lầm do mình đã tự gây ra, cậu ta hòa giải với mình, cậu ta tha thứ cho mình. Cậu ta đứng lên đi về nhà hòa giải với cha mình. Khi người con mở miệng xin lỗi người cha, cậu ta chấp nhận đóng lại một trang sách cũ. Bởi trang sách cũ đã được đóng lại, một trang sách mới được mở ra.
D. Simon Phêrô
Phêrô không phải là một nhân vật lạ mặt. Người Kitô hữu ai cũng biết ít nhiều những câu chuyện liên quan đến Simon Phêrô. Chuyện ông được trao chìa khóa Nước Trời. Chuyện ông ba lần khẳng định với Đức Giêsu Phục Sinh về lòng mến yêu của riêng ông đối với Ngài. Nhưng có lẽ Phêrô nổi tiếng nhất với câu chuyện chối Chúa. “Chối như Phêrô chối Chúa”, câu thành ngữ phổ thông của người Kitô hữu Việt Nam ám chỉ một người chối từ những hành động mình đã làm.
Trong nhóm Mười Hai người, không ai có thể từ chối được một sự thật là Phêrô là nhân vật nổi bật sáng chói. Nguyên thủy Phêrô tên thật là Simon, anh của Anrê. Đức Giêsu đã đổi tên ông từ Simon sang Cê-phas hay Phêrô (Gioan 1:42). Phaolô trong lá thư gửi tới tín hữu Galatia gọi Simon với cả hai tên, Phêrô (Galatia 2:7) và Cê-phas (Galatia 2:11). Simon và Anrê là con của ông Gioan (Gioan 1:42) hay Jonah (Mátthêu 16:17). Hai anh em làm nghề đánh cá (Máccô 1:16-20, Luca 5:1-11). Phêrô có lẽ sinh ra và lớn lên tại Galilê, do đó, Simon Phêrô nói tiếng Do Thái (Aramaic) giọng Bắc (Máccô 14:70, Mátthêu 26:73). Ông có nhà ở thành phố Ca-per-na-um, thành phố lớn của xứ Galilê (Máccô 1:29).
Qua bốn bản Tin Mừng, Phêrô xuất hiện với một cá tính mạnh. Yêu rất nhiều, nhưng cũng khá nóng tính. Sau Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu đã báo trước với Phêrô,
— [Phêrô] đêm nay trước khi gà gáy hai lần, con sẽ chối ta ba lần (Máccô 14:30).
Với một người có lòng mến Thầy sắt son nhưng nóng tính như Phêrô, chuyện chối Chúa là một câu chuyện hoang đường, không thể nào xảy ra được. Bởi thế Phêrô phản ứng ngay,
— Dù có phải chết với Thầy, con sẽ không chối Thầy (Máccô 14:31).
Nhưng cuối cùng ngay trong Vườn Cây Dầu, tất cả các môn đệ kể cả Phêrô đều bỏ chạy khi Đức Giêsu bị bắt. Nhưng Phêrô không bỏ chạy luôn. Trong khi Đức Giêsu đang bị luận án trước Tòa Công Nghị của người Do Thái, Phêrô quay lại (Máccô 14:54). Theo như Máccô, một người đầy tớ của thầy Thượng Phẩm thấy Phêrô đang sưởi ấm trong sân của tòa án. Cô ta nhìn ông chòng chọc mà nói,
— Cả ông nữa, ông cũng [đã từng] ở với Giêsu thành Nazareth.
Phêrô chối ngay,
— Tôi không biết, tôi không hiểu cô đang nói điều gì.
Biết tình thế nguy hiểm, Phêrô nhanh chân bỏ ra ngoài. Ngay lúc đó gà gáy lần thứ nhất. Một lần nữa, thấy Phêrô lảng vảng bên ngoài sân tòa án, người đầy tớ cất giọng tố Phêrô cạn láng. Cô oang oang nói với những người đang hiện diện,
— Tên này cũng thuộc về bọn chúng.
Một lần nữa Phêrô lại chối. Một khoảng thời gian nặng nề chậm chạp trôi qua, một người khác trong đám đông lại cất tiếng,
— Đúng là ông thuộc về bọn chúng rồi, bởi vì ông là người xứ Galilê.
Lần này, Phêrô thề khá độc địa,
— Tôi thề là tôi không biết về cái người mà các ông đang nói (Máccô 14:71).
Ngay lúc đó gà gáy lần thứ hai. Phêrô òa lên khóc, khóc nức nở!
Phêrô và Giuđa có một điểm rất giống nhau, và một điểm rất khác nhau. Điểm giống nhau là cả hai đã bán đứng Thầy của mình. Giuđa bán Thầy với giá 30 đồng tiền bằng bạc cho các thầy Thượng Tế. Phêrô không ngượng miệng chối Thầy mình trước mặt những kẻ xa lạ, chẳng có quyền thế gì trong xã hội. Điểm khác nhau giữa hai người là trong khi Giuđa không hòa giải, không tha thứ nổi cho chính mình, Phêrô đã tha thứ và hòa giải được với mình. Điểm khác nhau này đã mang hai người sang hai nhánh rẽ khác nhau trong cuộc đời.
Theo như Máccô sau ba lần chối Thầy, Phêrô vỡ òa ra trong tiếng khóc. Giuđa thì không. Trong khi Phêrô khóc, Giuđa bỏ đi tìm kiếm một sợi dây và một cành cây. Những giọt nước mắt thống hối của Phêrô cũng chính là những giọt nước mắt của hòa giải của tha thứ cho lỗi lầm của mình. Mặc dầu trong cả bốn bản Kinh Thánh, chúng ta không nghe thấy những lời nói xin lỗi của Phêrô đối với Thầy của mình, nhưng câu chuyện Phục Sinh là một bằng chứng cụ thể về tâm tình hòa giải của Phêrô với Ðức Kitô.
Theo như Luca 24:1-12, sáng hôm đó sau khi những người phụ nữ chạy về báo cho nhóm Mười Một và các môn đệ của Đức Giêsu biết tin về ngôi mộ trống, xác Ngài biến mất, mọi người không ai tin tưởng vào bản tin bất ngờ họ vừa được thông báo ngoại trừ Phêrô. Lập tức Phêrô chạy tới ngôi mộ. Nhưng rất tiếc Phêrô cũng không thấy gì khác hơn ngoài khăn tẩm liệm xác của Đức Giêsu. Một trong những lý do để giải thích tại sao Phêrô lại can đảm, một mình chạy ra ngoài ngôi mộ trống vào một buổi sáng sớm tinh sương của ngày hôm đó là vì Phêrô muốn gặp Đức Giêsu để xin lỗi. Trước bản tin bất ngờ được thông báo bởi những người phụ nữ, Phêrô tự dưng trở nên can đảm. Không sợ ai, không ngại phải đụng độ với quân lính La Mã đang canh gác ngôi mộ, Phêrô một mình chạy thẳng ra ngôi mộ, bởi Phêrô hy vọng sẽ gặp lại được Thầy của mình để mở miệng nói lời xin lỗi.
Theo như Gioan 21:1-14 vào một buổi sáng bên bờ biển Tibềrías của Biển Hồ Galilê, trong khi các môn đệ của Đức Kitô Phục Sinh đang lênh đênh thả trôi thuyền đánh cá. Sau một đêm vất vả, một lần nữa họ lại không bắt được chú cá nào. Thật là bất ngờ Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra bên bờ biển, nhưng không ai trong nhóm các môn đệ nhận ra Ngài. Ðức Kitô truyền các ông thả lưới bên mạn phải của thuyền đánh cá. Và thế là cá lại ngập tràn tung tăng lưới. Cá ngập khoang thuyền. Cá vươn vẩy bạc óng ánh tia nắng mặt trời bình minh. Khắp nơi là cá. Mọi nơi là cá. Thấy vậy, người môn đệ Đức Giêsu yêu mến nói với Phêrô,
— Thầy đó (Gioan 21:7).
Nghe chữ “Thầy đó”, Phêrô khoác vội vào người mảnh áo, nhảy xuống biển bơi vào bờ để gặp Đức Kitô Phục Sinh. Tương tự như câu chuyện được trình bày trong Luca 24:1-12, Phêrô lại có những hành động rất là vội vàng khi nghe người khác nói với ông về sự xuất hiện của Đức Giêsu Phục Sinh. Lần trước trong Luca 24:1-12 ông vội vàng chạy ra ngôi mộ trống một mình. Lần này ông vội vàng bơi vào bờ để gặp Đức Kitô Phục Sinh, trong khi đó các người môn đệ khác từ từ chèo thuyền vào bờ vì các ông không xa bờ biển lắm. Một trong những lý do để giải thích hiện tượng vội vàng này là bởi vì Phêrô muốn gặp Thầy để xin lỗi Ngài.
Sau khi gà gáy lần thứ hai vào buổi tối hôm đó trong sân của Tòa Công Nghị của người Do Thái, Phêrô đã khóc. Đây là một trong những hành động chứng tỏ cho chúng ta biết người ngư phủ của thành phố Ca-per-na-um chấp nhận mình đã có những hành động lỗi lầm. Những hạt nước mắt đã rớt xuống ngay trên sân của tòa án, có lẽ, trước mặt người đầy tớ gái của Thầy Thượng Tế và người khách qua đường vừa mới chỉ mặt tố cáo Phêrô. Phêrô bỏ đi, có lẽ vẫn còn khóc. Nhưng Phêrô không bắt chước Giuđa. Người ngư phủ của Biển Hồ không đi kiếm một cành cây bên vệ đường, bởi ông tha thứ được cho chính mình; nói một cách khác, bởi vì người ngư phủ hòa giải được với mình. Bởi hòa giải được với mình, Phêrô quay về lại căn nhà, nơi các môn đệ của Đức Giêsu đang tụ họp trong lo sợ, và ông kiên nhẫn hy vọng đợi chờ ngày được gặp lại Đức Giêsu. Cuối cùng đúng như ông hy vọng, ông gặp, và ông nói ba lần với Đức Kitô Phục Sinh,
— Thầy biết con yêu mến Thầy (Gioan 21:15-18).
Phêrô đã nhẹ nhàng vượt qua cả bốn giai đoạn của khái niệm chấp nhận. Ông chấp nhận mình lỗi lầm, bởi ông khóc. Ông hòa giải được với mình, bởi ông không đi tìm một sợi dây. Ông chấp nhận hòa giải với Đức Kitô Phục Sinh. Làm được ba điều trên, ông đã chấp nhận đóng lại một trang sách cũ, mở ra một trang sách mới. Trong những trang sách mới này, ông biến thành vị Giáo Hoàng đầu tiên của giáo hội.
III. Con Đường của Con Người Mới
Trong khi con đường của con người cũ là đêm đen bóng tối, là tử thần, sự chết, con đường của con người mới là con đường dẫn tới một đời sống mới, đời sống của trường sinh bất tử.
Vua Đavít đi vào lịch sử Kinh Thánh. Vua Đavít trở thành một nhân vật bất tử của dòng lịch sử ơn cứu độ. Từ dòng dõi của Vua Đavít, một gốc chồi đâm nhánh nẩy lộc, chồi non Đức Giêsu. Đức Giêsu thuộc về hoàng tộc vua Đavít. Vương triều của Đavít do đó tồn tại đến muôn thuở muôn đời.
Người đàn bà xứ Samaria, người con gái vô danh, người con hoang đàng cũng đã trở thành những nhân vật trường sinh bất tử của Tân Ước. Riêng người phụ nữ xứ Samaria, theo như một số sử gia Kinh Thánh, tên của bà là Phôtina. Theo truyền thuyết bà đã rửa tội cho con gái của Hoàng Đế Nêrô. Sau cùng bà chết tử vì đạo trong ngục tù của thành phố Carthage.
Phêrô, người thuyền chài ngày xưa đã trở thành vị giáo hoàng tiên khởi của giáo hội, một trong hai trụ cột của Giáo Hội, ngàn năm lưu truyền danh thơm.
(Còn tiếp)
www.nguyentrungtay.com