NĂM TUẤT NÓI CHUYỆN CHÓ

I. Chó trong ngôn ngữ và văn học Việt Nam

Ngôn ngữ Việt Nam có nhiều danh từ về chó, trong 12 con giáp thì năm chó được gọi là năm ‘tuất’; trong văn thơ thì chó được gọi là ‘khuyển’, còn từ ngữ bình dân thì gọi là: ‘con chó’, ‘con cầy’... Trong giới giang hồ ăn nhậu, món thịt chó là một trong các món nhậu ngon miệng. Riêng tại Việt Nam món “chó” rất được ưa chuộng và được gọi bằng nhiều danh từ thơ mộng như: ‘mộc tồn’, ‘thịt cầy’... với các quán nhậu chuyên món thịt cầy bảy món mang tên: ‘Quán Mộc Tồn’, ‘Quán Ðây Rồi’, “Quán Mơ”, “Quán Nai Ðồng Quê” v.v...

Trong nghệ thuật ăn uống có những câu ca dao tục ngữ, cha ông chúng ta gom cả kho tàng kiến thức kinh nghiệm về gia vị trong nghệ thuật nấu nướng:

Con gà cục tác lá chanh,

Con lợn ủn ỉn: mua hành cho tôi!

Con chó khóc đứng, khóc ngồi:

Bà ơi! đi chợ mua tôi đồng riềng.


Thật vậy thịt cầy mà không có miếng riềng, không có lá mơ thì ăn không ra ‘cày’ cũng chẳng ra ‘chó’....

Chó là một loài vật tinh khôn, có khứu giác rất thính nên được huấn luyện để đánh hơi “địch quân” cho mặt trận, hay tìm người trong các đống gạch đổ nát khi có thiên tai như động đất. Chó còn được dùng để truy lùng bạch phiến, kiểm soát hải quan... Có những trường huấn luyện chó vào nhiều việc chuyên môn như: chó dẫn người mù, chó giúp săn lùng thú vật trong các trại chăn nuôi, chó coi nhà v.v... Dân gian Việt Nam, cha ông chúng ta cũng rút ra những kinh nghiệm thường thức về các xúc vật gia cầm như chó mèo:

Chó khôn thì phải:

Con chó huyền đề

Con gà năm móng

Lấy về mà nuôi.


Hay

Dù ai buôn bán trăm nghề,

Chẳng bằng nuôi chó huyền đề bốn chân.

Con mèo sán mỡ nồi rang,

Con chó chạy lại nó mang lấy đòn...


Chó mèo vẫn là loại thú vật được yêu quí vào bậc nhất trong các loài gia cầm, đặc biệt bên Âu Mỹ Úc, chó mèo được cưng chiều, cung phụng; có các phòng bệnh cho chó mèo, nhà thương và khi chết thì có dịch vụ chôn cất, nghĩa trang v.v...

II. Phân loại một vài loại chó

Có nhiều loại chó, đại loại được chia ra hai loại: chó to và chó nhỏ.

Giống chó nhỏ thì có chó Fox, Chihuahua, Yorkchire, Cocker…

Giống chó lớn, chó dữ có: Berger, Pegingese, Dobermann, Dalmatian (chó đốm), New Foundland, Boston Terrier, Pug, Rottweller, Dachshund, Phú Quốc…

Đối với chó nhỏ thì chó càng nhỏ, càng dễ thương càng có giá trị. Một con chó Chihuahua lúc trưởng thành có trọng lượng từ 800 gam đến 1kg là lý tưởng, tương tự một con Fox càng ốc tiêu càng quý.

Ngược lại, nếu là giống chó lớn thì càng lớn, càng dữ, càng quí. Với nhóm này, chỉ cần nhìn chúng là chúng ta khiếp sợ ngay. Giống chó New Foundland gốc Canada, to lớn lực lưỡng, nặng đến 100kg, lông đen tuyền, mặt dữ như gấu. Chó Bulldog có khuôn mặt ngắn với những nếp nhăn chảy xệ xuống trông rất ngầu với ánh mắt lạnh lùng! Chó Dobermann cao to, đen trũi, dữ tợn, hung hăng như loài Berger. Ở Việt Nam cũng có loại chó quí đó là giống chó Phú Quốc. Loại chó này có đặc tính nhanh nhẹn và hiếu chiến, được đánh giá là thông minh gấp 4 lần chó Berger.

Chó Phú Quốc được ghi tên trong tự điển Larousse và được đưa lên các trang web về chó quý của thế giới. Trên thế giới chỉ có 3 loại chó có xoáy lưng là các loại chó tại Thái Lan, châu Phi và chó Phú Quốc Việt Nam.

Chó mèo là các loại gia cầm quí nên có nhiều bệnh viện thú y được trang bị không khác gì các bệnh viện cho người với các loại máy siêu âm, rọi quang tuyến, chụp dưỡng khí cho chó thở, xét nghiệm máu, nước tiểu, phân, da bằng máy móc hiện đại. Người ta đưa chó đi khám thai định kỳ, chó khó đẻ thì giải phẫu, rồi dịch vụ triệt sản, mổ sạn thận v.v... Có những con chó bị bại liệt phải châm cứu, đó là chưa kể các dịch vụ thẩm mỹ như: chăm sóc lông, da, nhuộm lông, xăm tên thú trên da, tai thú, giải phẫu thẩm mỹ đuôi, tai, lấy vôi răng bằng kỹ thuật laser. Khi chó chết thì cũng có ma chay chôn cất tại nghĩa trang chó đàng hoàng...

Mấy chú chó Chihuahua.

III. Chó được dùng làm bài học răn dậy người đời

Trong Văn học Việt Nam ít ra có hai câu chuyện về chó được dùng để răn dậy đời là:

1. Câu chuyện: “Người học trò và con chó đá”

Ngày xưa, có người học trò ngày nào đến nhà thày, đi qua một nơi có con chó đá. Mỗi khi người ấy đi ngang qua thì con chó đá nhỏm dậy tỏ vẻ mừng rỡ. Người học trò lấy làm lạ, một hôm đứng lại hỏi con chó rằng: "Anh em học trò qua đây đông, sao mày không mừng họ mà chỉ mừng riêng một mình tao"? Con chó đáp: "Khoa này chỉ có một mình thày thi đậu. Số trời đã định, nên tôi phải kính trọng mừng thày".

Người học trò nghe nói vậy, về nhà kể chuyện lại cho cha mẹ nghe. Từ đó, người cha bỗng lên mặt ta đây, hống hách với cả mọi người. Một hôm ông giắt trâu ra đồng cày, cho trâu dẫm cả lúa của người làng. Người ta nói, ông ta không thèm đáp lại. Rồi hôm sau, lại đưa thêm trâu, thêm người, cứ ruộng lúa của người ta bước bừa xuống dẫm be bét không kiêng nể chi cả. Chủ ruộng trông thấy lại kêu, thì ông trừng mắt dọa dẫm: "Khoa này con ông đỗ, rồi chúng bay sẽ biết tay ông"! Chủ ruộng thấy ông nói vậy, cũng đem lòng run sợ, không dám lôi thôi gì nữa.

Sau khi những chuyện đó xảy ra thì người học trò đi học bình thường, qua chỗ con chó đá thì không thấy nó đứng dậy nữa. Lúc về cũng vậy, nó cũng không mừng. Người học trò lấy làm lạ, đến hỏi con chó rằng: "Mọi buổi tao qua đây, mày vẫn đứng dậy mừng, hôm nay sao mày không đứng dậy nữa"? Con chó nói: "Tại cha thày lên mặt hách dịch với mọi người, cho trâu dẫm hại ruộng lúa của người ta, cho nên Thiên tào đã gạch tên thày đi, khoa này thày không đỗ được, nên tôi không phải mừng thày nữa". Người học trò về nhà đem lời chó kể lại với cha mình, ông ấy tỏ ra hối hận! Từ đó dẹp hết thói khoe khoang lên mặt, rồi tìm đến xin lỗi láng giềng.

Khoa ấy, người học trò đi thi đã vào lọt mấy kỳ, mà cũng không đỗ được. Tuy vậy, người ấy không nản chí, càng chăm chỉ học hành, còn người cha ở nhà cũng không lấy làm oán hận, càng tu thân tích đức để chuộc lỗi.

Sau đó vài năm, người học trò đi qua chỗ con chó đá, lại thấy nó đứng dậy mừng rỡ như trước. Hỏi thì con chó nói rằng: "Nhà thày tu nhân tích đức đã ba năm nay, đủ chuộc lại những lỗi lầm trước rồi. Nên sổ Thiên tào lại định cho thày thi đỗ khoa này".

Người học trò nghe nói rất đỗi vui mừng nhưng giữ kín trong lòng không dám kể lại cho cha nghe nữa, chỉ biết ra sức cố học. Quả nhiên khoa ấy chàng thi đỗ và làm quan giúp đời.

2. Câu chuyện thứ hai: “Giết Chó Khuyên Chồng”

Ngày xưa có hai anh em, anh thì giầu có còn em thì nghèo; thế mà người anh chẳng đoái hoài gì tới! Ngày ngày anh chỉ lui tới những bọn xua nịnh, rượu chè và còn giúp đáp bọn chúng, thế mà người em không có một lời than trách!

Người vợ thấy không được, cố khuyên chồng nên thương đến em, vì cùng máu mủ, nhưng chồng không nghe còn mắng nhiếc vợ...

Một chiều nọ trong lúc chồng đi vắng, nàng bèn giết con chó, đem bó chiếu rồi dấu ở một góc vườn. Lúc chồng về, nàng làm bộ hốt hoảng nói lúc ông đi vắng có một thằng ăn xin... Bận rộn, tôi chưa kịp cho nó, nó kêu gào chửi bới ầm ĩ! Tức mình tôi lấy chiếc đòn gánh phang nó một cái, chẳng may phang trúng huyệt, nó lăn đùng ra giẫy chết! Sợ quá tôi đã lấy manh chiếu bó và kéo để góc vườn sau nhà... Ông hãy nhờ mấy người bạn ông chôn hộ, kẻo lộ ra thì thật phiền toái!

Nghe thế ông chồng vội vã chạy tới các bạn nhậu, nhưng chẳng ai thèm giúp vì sợ liên lụy! Ông than thở với vợ, vợ bèn đề nghị sang nhờ chú em... Nghe thế người em nói: “mau mau phải chôn đêm nay kẻo dân làng biết thì khốn đó!”

Thế là chú chạy sang, hì hục đào huyệt chôn dấu phi tang cái xác đó mà không một lời than thở mệt nhọc!

Khi người em về, người vợ mới nói với chồng: “mình xem đấy, anh em như thể chân tay... Chú nó thật là tốt, hết lòng cho vợ chồng mình, chứ nào có như những loại bạn lợi dụng của ông! Có ma nào nó giúp đâu!” Người chồng nghe vợ nói chí lý, hối hận và quyết sẽ đem lòng yêu thương chú em!

Sáng hôm sau, vừa thức dậy vợ chồng ông thấy mấy người bạn kéo đến, to nhỏ về án mạng đêm qua và đòi tiền đút lót, nếu không sẽ tố giác! Người chồng sợ quá định đem tiền ra trám miệng lũ bạn vô ơn, nhưng người vợ khăng khăng không chịu!

Thế là họ tố tới quan. Quan về xét xử! Người chồng lo quýnh quáng nhưng người vợ thì rất bình thản khuyên chồng cứ yên tâm.

Khi xét xử, vị quan được người vợ khai rõ hết sự thật, ông đã cho người khai quật mộ lên thì thật chỉ là xác của một con chó chứ chẳng phải là xác người! Thì ra vợ đã khôn khéo dùng kế đó để khuyên chồng... Ông quan nổi giận cùng những người bạn xấu, ông truyền đánh đòn... và hết lời khen ngợi người vợ khôn khéo biết tìm kế khuyên chồng... (Truyện Cổ Nước Nam).

IV. Chó trong Thánh Kinh

Lần rở trong Thánh Kinh, hình ảnh ‘chó’ cũng được nhắc tới hay xuất hiện nhiều lần trong các câu chuyện hay biến cố của Kinh Thánh.

Trước tiên trong Cựu Ước:

Sách Sáng Thế Ký Chương 49, tổ phụ Yacóp gọi 12 con lại và chúc lành cho từng đứa, ông dùng hình ảnh và các biểu tượng để nói lên cá tính cũng như ân lộc cho từng đứa. Riêng đứa út là Ben-gia-min, ông đã dùng hình ảnh ‘chó sói’ tinh khôn và được cưng phụng no nê ăn sáng ăn tối như câu 27 sánh ví “Ben-gia-min là chó sói hay cắn xé, buổi sáng nó ăn mồi, buổi chiều nó chia phần cướp được."

Còn sách Xuất Hành Chương 11 kể lại cảnh con trai đầu lòng của dân, ngay cả xúc vật của đất nước Ai Cập đều bị Yavê phạt chết, thế mà dân Do Thái thì lại được Chúa Thiên Binh gìn giữ an bình, không bị quấy rầy như câu 6 nói: “Còn nơi mọi con cái Ít-ra-en, sẽ không có một con chó nào sủa, dù sủa người hay sủa thú vật; như thế, các ngươi sẽ biết rằng Đức Chúa phân biệt Ít-ra-en với Ai-cập”.

Và sách Xuất Hành Chương 22 các câu 28-30: Yavê Thiên Chúa căn dậy cách thế gìn giữ và dâng lễ bằng những của đầu mùa thu hoạch, và cao cả thay đứa con đầu lòng, phải gìn giữ đừng ăn những thứ làm cho nó bị ô uế: “Các ngươi sẽ là những người được thánh hiến cho Ta: thịt con vật bị thú dữ xé ngoài đồng, các ngươi đừng ăn, nhưng phải ném cho chó”.

Sách Thủ Lãnh Chương 7: Yavê Thiên Chúa chỉ dẫn cho Ghêđêôn tuyển chọn những người xứng đáng được phục vụ trong quân đội tinh nhuệ của Chúa Giavê như trong câu 5 nói:”Vậy ông Ghêđêôn đem đám dân ấy đến gần nước, và Đức Chúa phán với ông Ghêđêôn: ‘Tất cả những ai thè lưỡi tớp nước như chó, ngươi hãy để riêng ra, tất cả những ai quỳ xuống mà uống cũng vậy’."

Và sách Thủ Lãnh Chương 15 câu 4 còn thêm Ông Sam-sôn tinh khôn đi bắt ba trăm con chó sói; lấy đuốc, rồi cột ngược đuôi con này với đuôi con kia và buộc một chiếc đuốc giữa hai đuôi, nhờ thế mà trại địch quân bị cháy làm cho quân lính địch quân bị rối loạn hàng ngũ!

Sách Samuel I Chương 17 câu 43 “Tên Phi-li-tinh nói với Đa-vít: "Tao là chó hay sao mà mầy cầm gậy đến với tao? " Và tên Phi-li-tinh lấy tên các thần của mình mà nguyền rủa Đa-vít”.

Trong sách Samuel quyển II Chương 3 câu 8 diễn tả cảnh ông Áp-ne giận lắm vì những lời vua Ít-bô-sét đã sánh ví ông là ‘đầu chó’ là lời chửi bới khinh bỉ như sau: "Tôi là đầu chó của Giu-đa sao? Hôm nay tôi lấy tình nghĩa mà đối xử với nhà của vua Sa-un, cha ngài, với anh em của người và với các bạn của người; tôi đã không để ngài rơi vào tay Đa-vít. Thế mà hôm nay ngài lại bắt lỗi tôi về chuyện một người đàn bà!”

Samuel II Chương 9 nói lên lòng nhân nghĩa của thánh vương Davít, dù bề tôi bất xứng chẳng khác nào một con chó trong nhà như câu 8 diển tả lời của Xiba là một nô bộc đã cúi lạy trước thánh vương Davít và nói: ‘Tôi tớ ngài là gì, mà ngài quay về phía một con chó chết như cháu?’ ".

Trong Tân Ước

Chính Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh con chó để sánh ví dân riêng của Chúa với người dân ngoại hay con cái Thiên Chúa với con cái thế gian như trong Phúc âm thánh Mát-thêu Chương 7 câu 6 Chúa nói chớ phí phạm tới của thánh như sau:

"Của thánh, đừng quăng cho chó; ngọc trai, chớ liệng cho heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi còn quay lại cắn xé anh em”.

Cũng như trong Mát-thêu Chương 15 câu 21 – 28 cho thấy thái độ của Chúa Giêsu với người đàn bà Canaan, khi bà kêu cầu Chúa chữa lành đứa con gái của bà đang bị quỷ ám... Chúa đã thử thách đức tin của bà khi sánh ví véo von như trong câu 26:Người đáp: "Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con."

Nhưng bà ấy rất hào hùng khiêm tốn không lay chuyển khi bà thưa lại trong câu 27: "Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống."

Còn Phúc âm thánh Mác-cô Chương 7 cũng diễn tả lòng tin của người phụ nữ Phênikia trong câu 27 Chúa nói với một người đàn bà năn nỉ Chúa làm phép lạ như sau: "Phải để cho con cái ăn no trước đã, vì không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con."

Và Mác-cô Chương 7 câu 28 Người Bà ấy đã không nẳn chí, không hổ người nổi nóng, nhưng khiêm hạ đáp: "Thưa Ngài, đúng thế, nhưng chó con ở dưới gầm bàn lại được ăn những mảnh vụn của đám trẻ con." Và thái độ tín thác của bà đã được Chúa ân thưởng thể hiện phép lạ cho con bà được chữa lành!

Cuối cùng Phúc Âm thánh Luca chương 16 diển tả cảnh người phú hộ ăn sang mặc gấm mà không chạnh lòng thương đến người ăn xin túng nghèo Lazarô đang thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no mà không được... Chỉ được mấy con chó đến liếm ghẻ chốc cho mà thôi (câu 21). Sau khi cả hai cùng chết và hoàn cảnh được thay đổi ngượcoànoàn toàn: Lazarô thì hạnh phúc trong lòng tổ phụ Abraham còn người phú hội thì quằn quại khổ đau than trách kêu cứu trong đáy sâu địa ngục!

V. Kết Luận:

Năm Tuất nhắc nhớ chúng ta đặc tính tinh khôn của loài chó, nhưng đặc biệt tính trung thành với chủ và sự tỉnh thức canh chừng của chó. Chúng ta hãy xin cho được sự khôn ngoan và lòng trung thành như những tôi trung với Chủ của chúng ta chính là Thiên Chúa.

Trong vai trò sửa dậy cho nhau chúng ta hãy nhớ lại hình ảnh mà các giáo phụ thường dùng chỉ các bậc cha mẹ hay bề trên không biết răn đe hay nhắc nhủ cho bề dưới của mình câu ngạn ngữ vắn gọn: “Khốn cho những con chó không biết sủa!” Nhiệm vụ canh giữ của chó là sủa mỗi khi có người lạ hay vật cấm mà chó được huần luyện để truy lùng phát hiện, mà không sủa lên thì làm sao chủ nhân của nó biết được! Chó không sủa thì chẳng còn là chó nữa!!!