“MẦU NHIỆM NÊN MỘT” TRONG ƠN GỌI HÔN NHÂN KITÔ HỮU: LÝ TƯỞNG HAY ẢO TƯỞNG ?
Aug. Trần Cao Khải
Người ta thường nói “Vợ chồng như đũa có đôi” để minh họa cho sự hiệp nhất, gắn bó, nương tựa giữa hai người bạn đời trong đời sống hôn nhân gia đình. Và chúng ta cũng biết đến một câu thơ khá phổ biến, như một điệp khúc dễ thương : “Mình với Ta tuy hai mà một, Ta với Mình tuy một mà hai”. Trước đây, vợ chồng thường hay xưng hô với nhau : “Mình ơi mình !...”, còn ngày nay, các bạn trẻ có một cách nói khác xem ra thi vị hơn, gợi cảm hơn, ví von hơn, để gọi người bạn đời của mình : “Một nửa của tôi ơi !...”.
Quả vậy, đời sống hôn nhân mà các bạn sắp bước vào được đánh dấu như một biến cố vĩ đại và một sự thay đổi quan trọng vào bậc nhất trong cuộc sống của hai người. Bởi vì, nhờ ơn huệ và hiệu lực kỳ diệu của bí tích hôn phối được cử hành hôm nay, hai bạn sẽ “không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (x.Mt 19,6), và “người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24). Điều đó có nghĩa là bắt đầu từ nay, hai bạn sẽ hiệp nhất nên một trong tình yêu, trong cuộc sống nhờ giao ước hôn nhân Kitô giáo.
I.- HÃY MÃI LÀ “MỘT NỬA” CỦA NHAU !...
Cụm từ “hiệp nhất nên một” đã gợi cho chúng ta khá nhiều suy nghĩ về viễn ảnh đời sống hôn nhân, trong đó chính các bạn sẽ là những người vừa kiến tạo vừa xây dựng, lại vừa sống bằng tất cả tình yêu và nỗ lực của chính mình. Lời Chúa liên quan mầu nhiệm - bí tích hôn phối sẽ luôn là ánh sáng và động lực giúp các bạn hiểu rõ cũng như thể hiện đúng đắn sự hiệp thông tình yêu và sự hiệp nhất trọn vẹn cả tâm hồn lẫn thể xác. Hôn nhân chính là cuộc đời “hai-trong-một”.
Chúng ta sẽ bắt đầu câu chuyện hôm nay với vấn đề “lý tưởng nên một” trong hôn nhân Kitô hữu bằng cách đặt vấn đề : “Đâu là ý nghĩa và mục đích của lý tưởng ‘nên một’ này?”.
ĐGH Gioan-Phaolô II trong Tông huấn về những bổn phận của gia đình Kitô hữu đã nhấn mạnh như sau : “Nhờ tính cách bí tích của hôn nhân, đôi bạn được liên kết với nhau một cách chặt chẽ không thể tháo gỡ được. Khi người này thuộc về người kia, họ thực sự biểu lộ tương quan giữa Đức Kitô với Hội Thánh của Ngài, qua dấu chỉ bí tích” (FC 13).
Bên cạnh đó, HĐGMVN qua thư Mục Vụ năm 2002 về Thánh hóa Gia đình cũng đã chỉ rõ : “Chính sự hiệp thông mật thiết trong gia đình Kitô giáo là hình ảnh sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa : Yêu nhau và nên một với nhau mà vẫn hoàn toàn tôn trọng sự khác biệt giữa các ngôi vị” (TMV 2002, 6).
Dựa vào các chỉ dẫn trên, chúng ta có thể hình dung được hai hình mẫu đặc trưng của sự hiệp nhất trong hôn nhân Kitô giáo. Một là phản ánh sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Vị Thiên Chúa và hai là biểu lộ mối quan hệ mật thiết như tương quan gắn bó giữa Chúa Kitô và Hội thánh.
¨ HÔN NHÂN KITÔ GIÁO : PHẢN ÁNH SỰ HIỆP THÔNG TÌNH YÊU GIỮA BA NGÔI VỊ THIÊN CHÚA.
Trong hôn nhân Kitô giáo, sự kiện “hai người nên một” đã diễn tả ý nghĩa sâu xa của thực tại hiệp thông tình yêu giữa Ba Ngôi Vị Thiên Chúa, như Tông huấn về những bổn phận của gia đình Kitô hữu đã khẳng định : “Thiên Chúa là Tình yêu và nơi chính mình Người, Người đang sống mầu nhiệm hiệp thông yêu thương giữa các ngôi vị. Khi tạo dựng nhân tính của người nam và người nữ theo hình ảnh Người, và liên lỉ bảo toàn cho nhân tính ấy được hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống yêu thương và hiệp thông. Tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người” (FC 11).
Vậy, khi chấp nhận sống ơn gọi hôn nhân theo như ý Thiên Chúa, các bạn sẽ phải phấn đấu không ngừng và nỗ lực bền bỉ trong việc hoàn thiện sự hiệp thông tình yêu, nhờ đó hai người hợp nhất nên một và trở nên dấu chỉ sống động về tình yêu hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Đây được coi là ơn gọi căn bản, nền tảng đối với những ai muốn sống và trung thành với giao ước hôn nhân Kitô hữu của mình.
¨ HÔN NHÂN KITÔ GIÁO : MÔ PHỎNG VÀ THỂ HIỆN CÁCH TRUNG THỰC MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÚA KITÔ VÀ HỘI THÁNH.
Một sự hiệp thông và hiệp nhất như thế nơi quan hệ vợ - chồng trong hôn nhân Kitô giáo cũng được thánh Phaolô đồng hóa với mối quan hệ trong Nhiệm Thể Chúa Kitô. Ngài đã không ngần ngại so sánh sự kết hiệp giữa chồng - vợ với mối hiệp thông sâu xa, huyền diệu giữa Đức Kitô và Hội thánh của Chúa. Trong thư gửi tín hữu Êphêsô, thánh nhân đã viết : “Vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội thánh…Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh” (x.Êp 5,23-25).
Như vậy, mối tương quan “đầu-thân mình” là mối tương quan “sống-chết”, là mối tương quan gắn kết không thể tách rời nhau được. Và qua mô phỏng này, đôi bạn sẽ không còn là hai cá thể rời rạc mà hợp thành một thân-thể-trong-xác-thịt-và-trong-tinh-thần. Như Lời Kinh thánh mà chúng ta đã nói đến lúc đầu : “Không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (x.Mt 19,6).
Với nhận định như thế, chúng ta xác tín rằng qua việc cử hành bí tích hôn phối trong ngày hôm nay, đôi bạn sẽ mặc nhiên chấp nhận sống mầu nhiệm hiệp thông như Ba Ngôi Vị Thiên Chúa và mầu nhiệm liên kết như Đức Kitô và Nhiệm Thể của Ngài.
II.- ĐIỀU KIỆN ĐỂ NUÔI DƯỠNG, DUY TRÌ VÀ PHÁT HUY SỰ HIỆP THÔNG HIỆP NHẤT TRONG ĐỜI SỐNG VỢ CHỒNG.
Tuy nhiên, để sống trọn vẹn sự hiệp thông, hiệp nhất và nên một theo kiểu mẫu nêu trên, chúng ta phải dõi theo những gì Thiên Chúa và Đức Kitô đã thực hiện. Có thể nêu ra đây ba đòi hỏi chính yếu. Đó là phải có tình yêu thương quảng đại, phải có sự hy sinh cao cả và phải có lòng bao dung rộng lớn.
1. Một tình yêu thương quảng đại :
Như chúng ta đã biết, Thiên Chúa là Tình Yêu (1Gio 4,8). Và Tình Yêu xuất phát từ Người (1Gio 4,7). Tình yêu ấy thì quá bao la và rộng mở. Ba Ngôi Vị Thiên Chúa yêu nhau “tràn đầy” và vĩnh cửu. Người cũng yêu con người vô bờ bến. Vì yêu, Người đã hành động với tất cả những gì Người có thể làm được, kể cả hiến ban Con Một mình để nhân loại được sống sung mãn và yêu thương như Người (x.1Gio 4,9-10).
Đến lượt Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa làm người, cũng làm gương cho ta về sức mạnh bao la của tình yêu. Ngài yêu Cha và vâng phục thánh ý Cha trong mọi sự, kể cả chấp nhận cái chết nhục nhã đau thương nhất. Ngài yêu con người đến giọt máu và hơi thở cuối cùng. Với một tình yêu cực kỳ mãnh liệt, Ngài đã hiến ban chính sự sống mình cho chúng ta để minh chứng một điều duy nhất : tình yêu (x. Gio 13,1;10,11-18).
Như vậy, chính tình yêu nơi Thiên Chúa và tình thương nơi Đức Kitô, sẽ mãi mãi là mẫu mực cho tất cả mọi Kitô hữu, đặc biệt cho những ai bước vào đời sống hôn nhân gia đình. Hai người bạn đời sẽ yêu nhau như Thiên Chúa yêu họ và như Đức Kitô yêu Hội thánh. Đó thực sự là một đòi hỏi quyết liệt và đầy thách thức. Nhưng “Tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người” (FC 11). Và bí tích hôn nhân Kitô giáo sẽ ban cho chúng ta ơn thánh dồi dào để ta có đủ sức mạnh và nghị lực xây dựng, bảo vệ tình yêu đến cùng. Chỉ có tình yêu quảng đại (=Agapê) đích thực mới gắn kết hai tâm hồn, hai thân xác, hai con người lại với nhau một cách sâu xa, bền chặt mà thôi.
“Hãy yêu như Thiên Chúa đã yêu”. Đó vừa là một mệnh lệnh vừa là một ơn gọi…
2. Một sự hy sinh cao cả :
Khi yêu, người ta phải hy sinh. Đó là một quy luật muôn thủa. Chính Chúa Giêsu đã phán : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Gio 15,13). Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux cũng đã nói : “Yêu và hy sinh là một, không hy sinh thì chưa gọi là yêu”.
Để tình yêu thể hiện đúng nghĩa và có khả năng bảo toàn trọn vẹn sự hiệp thông yêu thương, chúng ta phải hy sinh. Đó là điều mà ĐGH Gioan-Phaolô II đã khẳng định trong Tông huấn về những bổn phận của gia đình Kitô hữu. Ngài viết : ”Chỉ có một tinh thần hy sinh cao cả mới giúp gìn giữ được và kiện toàn được sự hiệp thông trong gia đình. Thực vậy, sự hiệp thông này đòi hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở lòng ra để thông cảm, bao dung, tha thứ cho nhau, và hòa giải với nhau. Không có gia đình nào mà không biết rằng sự ích kỷ, những bất hòa, những căng thẳng, những xung đột đã làm hại cho sự hiệp thông gia đình biết chừng nào, và đôi khi còn có thể làm tiêu tan sự hiệp thông ấy: chính từ đó mà phát xuất muôn vàn hình thức chia rẽ khác nhau trong đời sống gia đình.” (FC 21)
Và những nét nổi bật của sự hy sinh đó chính là từ bỏ ý riêng, là sống quảng đại, là biết tôn trọng lẫn nhau, là sẵn sàng tha thứ và kiên trì phục vụ vì lợi ích cho nhau. Chúa Giêsu đã nói và làm gương về sự hy sinh của Ngài. Với Ngài, sống là chu toàn ý Cha, là vác thập giá, là chấp nhận đau khổ, là hoàn thành bổn phận dù là nhỏ mọn nhất, là nhẫn nại chịu đựng, là hy sinh quên mình để phục vụ vv…Tình yêu nơi Đức Kitô được biểu thị bằng hình ảnh một trái tim rướm máu, một trái tim rực lửa và một trái tim luôn luôn rộng mở. Trái tim khao khát chia sẻ tình yêu thương.
Cuối cùng, một điều đặc biệt quan trọng khác, đó là muốn nên một trong cuộc sống hôn nhân gia đình, chúng ta cần có một tấm lòng bao dung nữa.
3. Một lòng bao dung rộng lớn :
Chúng ta biết rằng, lòng bao dung (tolérance) khác với lòng khoan dung (indulgence). Bao dung là tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt, sự đa dạng giữa người với người trong đủ mọi chiều kích. Trong khi đó, khoan dung là dễ dàng chấp nhận và tha thứ những lỗi lầm hay khiếm khuyết của người khác. Trên thực tế, có người từng khoan dung, nhưng chưa hẳn đã từng bao dung. Họ có thể tha thứ, thông cảm những sai lỗi của người khác, nhưng không chấp nhận người khác suy nghĩ, hành động khác mình. ()
Với nhận thức “Bao dung là chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt, đa dạng của con người” thì vợ chồng sẽ dễ dàng xích lại gần nhau, dễ dàng bổ túc cho nhau, dễ dàng giúp đỡ nương tựa nhau, dễ dàng cần đến nhau, nhờ đó họ kiện toàn sự hiệp nhất yêu thương nhau. Một danh nhân đã nói : “Yêu ai là yêu trọn vẹn con người đó y nguyên như trong thực tế, chứ không phải như trong ước muốn của ta” (Leon Tolstoi ). Ca dao VN ta cũng có câu : “Yêu nhau vạn sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng…”.
Thực vậy, “Sự hiệp thông trong gia đình đòi hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở lòng ra để thông cảm, bao dung, tha thứ cho nhau, và hòa giải với nhau.” (FC 21). Khi hai người phối ngẫu biết mở lòng ra để đón nhận người bạn đời thì có nghĩa là, một mặt họ phải sẵn sàng chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của người ấy, mặt khác họ cần khiêm tốn quảng đại tự điều chỉnh mình kịp thời và thường xuyên, để sự hiệp nhất luôn được bảo toàn, tránh xảy ra những rạn nứt, mâu thuẫn nghiêm trọng.
III.- “NÊN MỘT” : CÓ CHĂNG CHỈ LÀ ẢO TƯỞNG ?
Những suy nghĩ trên kia giúp chúng ta hiểu rằng sự hiệp thông, hiệp nhất để nên một trong hôn nhân Kitô hữu không chỉ là lý tưởng mơ hồ, như một điều gì đó “kính nhi viễn chi”, mà thực chất đó là ơn gọi, là sứ mệnh và cũng là ơn huệ của con cái Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã từng quan tâm điều này, và thành khẩn cầu mong “Để tất cả nên một…” (Gio 17,21). Với các đồ đệ thân tín của Ngài, cũng như với mọi tín hữu sống ơn gọi khác nhau, lời cầu xin ấy luôn có ý nghĩa to lớn.
Bởi thực tế luôn cho thấy rằng có rất nhiều “ma lực” luôn đe dọa, nhằm phá vỡ cách dễ dàng sự hiệp thông hiệp nhất vợ chồng. Những thông tin được đăng tải hằng ngày trên sách vở báo chí căn cứ những thống kê khảo sát tỉ mỉ đã cho thấy thực trạng đổ vỡ nơi các đôi vợ chồng trong gia đình hiện nay rất đáng báo động. Những mâu thuẫn, rạn nứt, đổ vỡ, chia rẽ, bất hòa, xung đột, căng thẳng đang có nguy cơ len lỏi vào hầu hết các gia đình, kể cả những gia đình Kitô hữu chúng ta. Và hệ quả thường kéo theo là những vụ ly hôn, ly dị. Chuyện hợp tan, tan hợp không còn gì là hiếm hoi, xa lạ nữa.
Báo chí cho biết ở Trung Quốc, trong năm 2002 có 1,2 triệu cặp vợ chồng ly hôn. Có nghĩa là trung bình mỗi ngày có 3.225 vụ ly hôn. () Riêng ở nước ta, tại TP. HCM, năm 1995 có 5.195 vụ ly hôn trên tổng số 15.918 đôi kết hôn, tỷ lệ là 32,64%. Như thế, ta thấy cứ ba đôi kết hôn thì lại có một đôi ly hôn. Con số này so với các thành phố khác như Manila, Thượng Hải, Kuala-Lumpur, Jakarta…là khá cao. ()
Đó là mặt trái đen tối của bức tranh hôn nhân gia đình trong xã hội ngày này. Vì lý do nào đó, người ta đã đánh mất niềm an vui hiệp nhất quý báu mà lý tưởng hôn nhân đã định hướng ngay từ ban đầu. Dù sao chăng nữa, các đôi vợ chồng Kitô hữu chúng ta cũng không quá bi quan trước tình hình này. Vấn đề là chúng ta cần cảnh giác và tỉnh táo để nhận định thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và cầu nguyện. Ơn Chúa sẽ giúp chúng ta thực thi hoàn hảo trong đời sống cụ thể của mình ba đòi hỏi căn bản của Chúa, đó là : “yêu thương quảng đại - hy sinh cao cả và bao dung rộng lớn”. Đó là cách chúng ta đối phó với những đe dọa hủy hoại mối hệ hiệp nhất vợ chồng. Đó cũng là cơ sở vững chắc để chúng ta tin tưởng sẽ bảo vệ cuộc hôn nhân của mình được bền vững và hạnh phúc lâu dài.
Để kết thúc đề tài này, chúng ta nhắc lại một ý tưởng ngắn trong Thư Mục Vụ 2002 của HĐGMVN về “Thánh hóa gia đình”, như sau : “Dẫu cho có những bóng tối và khó khăn che lấp đi phần nào sự cao đẹp của những giá trị hôn nhân và gia đình, nhưng các Kitô hữu vẫn luôn được mời gọi vững tin vào quyền năng của Thiên Chúa để trở thành sứ giả loan báo Tin Mừng về gia đình cho thế giới hôm nay, và để các ‘gia đình Kitô hữu trở nên tin mừng cho thiên niên kỉ thứ ba’ ” (TMV2002, 9). Sự hiệp thông gắn bó và hiệp nhất bền vững trong đời sống vợ chồng luôn là dấu chỉ về một cuộc hôn nhân hạnh phúc, đẹp lòng Thiên Chúa. Đó cũng là một cách làm chứng và rao giảng Tin Mừng có sức thuyết phục nhất đối với những gia đình đang chìm trong bất hòa, chia rẽ và nguy cơ tan vỡ.