Từ thiên kiến ngộ nhận đến xác tín về tin(tiếp theo)
II- ĐỨC TIN : ĐÒI HỎI CĂN BẢN TRONG ĐỜI TÍN HỮU.
Tin là sáp nhập vào Chúa Ki-tô
Công đồng Va-ti-ca-nô II, khi muốn định nghĩa Ki-tô hữu, đã lấy chính Chúa Ki-tô để làm công việc đó. Điều này thật hiển nhiên vì Ki-tô hữu là người thuộc Chúa Ki-tô, bởi Chúa
Ki-tô mà ra. Vì thế, trong các từ ngữ phương Tây, danh hiệu Ki-tô hữu thường được rút ra từ tiếng Ki-tô, như Christus, christianus (La tinh); Christ, chrétien (Pháp); Christus, der christ, die christen (Đức); Christ, christian (Anh). Bởi vậy, Công đồng viết: “Ki-tô hữu công khai xưng tụng Đức Giê-su là Chúa và Chủ, Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, để tôn vinh Thiên Chúa độc nhất là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần’. (1) Đó là chân lý căn bản, thiết yếu của Ki-tô giáo, trung tâm cốt yếu và sống động của Đức tin. Vả chăng, ngay từ đầu khi đạo Chúa Ki-tô hữu : ‘Chính tại An-ti-ô-khi-a mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Ki-tô hữu”, (Act 11,26) vì họ đã đón nhận Tin Mừng của Chúa Giê-su; họ là những người theo đường lối Chúa Ki-tô Bởi đâu, họ được phân loại như thế, nếu không phải vì họ tin theo Chúa Ki-tô ? Chính niềm tin vào Người đã qui định thành phần cho họ. Đức tin đã ràng buộc chặt chẽ họ vào một ngôi vị sống động là Giê-su Cứu Chúa. Với họ, tin đã trở nên một hành động lựa chọn giữa hai đối tượng : một bên là Chúa Ki-tô, còn một bên là người, vật, chủ nghĩa và bao sức hấp dẫn khác. Tuy nhiên, sự lựa chọn này có tính tự do và ý thức, căn cứ trên sự nhận biết và ưng theo. Vì thế, tin trước hết là một ân huệ Chúa ban, sau là một hành vi cá nhân, độc lập, xây dựng trên việc ý thức và nhận định rõ ràng Đấng mình tin theo. Do đó tin là trở thành môn đồ sống động của Đức Ki-tô, lấy Người làm tiêu chuẩn sống : “Vì đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1,21), một đời sống quyết liệt, nhất thiết cái gì cũng được qui định bởi đức tin để trở nên người công chính, vì “Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống,” (Rm 1,16), và mặc lấy chính những tâm tình của Chúa Ki-tô. Thành ra, đức tin là một đòi hỏi căn bản trong đời Ki-tô hữu. Có đức tin và sống theo đức tin vào Chúa Ki-tô mới gọi được là tín hữu. Bỏ đức tin ra ngoài, người ta có thể là gì khác mà không phải tín hữu của Chúa. Đây cũng chính là điều kiện cần thiết để được cứu rỗi. Quả vậy, trong cuộc
(1)Les actes du Concile Vatican II, Editions du Cerf, Paris 1966: Décret sur I’oecuménisme trang 218, số 20
đời truyền đạo, Chúa Giê-su hằng luôn luôn tha thiết kêu gọi người ta đặt tin tưởng vào Tin Mừng Người loan báo: ‘Thời kỳ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy hối cải và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1,15).
Hối lỗi và tin tưởng là hai điều kiện gắn liền với nhau để được cứu rỗi. Và khi tin, không còn phải sợ: ”Đừng sợ, cứ việc tin”(Mc 5,35-36, Lc 8,49-50), vì người tin làm được mọi sự: “Đối với người tin, mọi việc đều có thể làm được.” (Mc 9,22-23).
Đó là trường hợp của người bất toại : “Này con,cứ yên tâm, tội con đươc tha rồi (Mt 9,2: Mc 2,5: Lc 5,20); người đàn bà tội lỗi (x. Lc 7,30); người mắc bệnh loạn huyết (x.Mt 9,22); người mù mang tên Bạc-ti-mê (x. Mc 10,52; Lc 18,42) người cùi ân nghĩa (x. Lc 17,19). Tất cả đều đã vì tin mà được cứu sống.
Tin là gặp gỡ, tiếp xúc với Thiên Chúa
Tuy nhiên, tin không phải là một thái độ chấp nhận hờ hững, mà chính là một hành động dấn thân, đưa con người tới gặp Thiên Chúa một cách mật thiết mạnh mẽ. Gặp gỡ thân tình là biểu chứng của lòng tin yêu và điều kiện tất yếu để tăng cường đức tin của con người đối với Thiên Chúa. Chính trong sự tiếp xúc với Chúa mà tín hữu thêm hiểu và mến yêu Người. Bởi vậy, thiếu tiếp xúc, gặp gỡ Thiên Chúa, đức tin của ta sẽ mơ hồ cằn cỗi. Sự gặp gỡ dần dà sẽ giúp ta khám phá Chúa mỗi ngày một hơn, để hình ảnh của Người bộc lộ dưới mắt ta với tất cả vẻ trìu mến, hấp dẫn, yêu thương và tiếng nói của Người trở nên ngọt ngào, linh động như vua Đa-vít, người có kinh nghiệm về Chúa đã nói: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy : hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người” (Tv 34,9)
Tuy nhiên, kinh nghiệm này có tính cá nhân, chỉ dành riêng cho những người chịu tìm làm quen với Chúa. Dù vậy, nhiều khi tìm gặp Chúa để gây thứ cảm xúc ngọt ngào êm ái này, người ta vẫn không thấy toại nguyện, vì cũng có khi Chúa như lẩn trốn và không chịu trao đổi cảm xúc này với người chủ tâm đi tìm nó. Đó là lúc Người muốn thử thách những ai tin Người và tước đoạt nơi họ mọi hình thức cảm xúc, để chỉ còn giữ lại niềm tin trong sáng như một điểm son đã được thanh luyện. Đây là niềm tin thanh thoát, bám chặt vào Chúa một cách vô vị lợi. Đó mới đích thực là tin, nghĩa là hoàn toàn xác tín những lời Chúa nói, những việc Chúa làm mà không cần phải thấu cảm thấy gì cả. Tuy nhiên, phải trưởng thành trong đức tin mới có được thái độ này và tập cho quen gỡ mình cho khỏi khuynh hướng tìm kiếm và yêu chuộng những rung cảm giác quan trong sinh hoạt đạo đức, đành rằng những thứ đó cũng góp phần thúc đẩy và tăng thêm lòng sốt sắng. Nhưng, không nên quá bận tâm, lệ thuộc vào chúng đến nỗi chỉ tưởng mình đạo đức, thánh thiện khi được chúng yểm trợ. Phải chăng vì vậy, Chúa mới nói : ”Nhưng giờ đã đến và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thật sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật. Quả thế, Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như vậy”(Ga 4,23-24), trong lần tiếp xúc với thiếu phụ xứ Sa-ma-ri và khi bày tỏ thái độ với những ai yêu cầu Người cho xuất hiện vài điều lạ (x. Lc 11,29)
Đòi hỏi của Đức Tin
Tin như thế thật là đòi hỏi, vì nó bắt ta phải gạn lọc, gan dạ và suy tính đến độ gần như bị bóc lột hết, để chỉ còn giữ lại trong ta cái phần tinh hảo nhất : CHÚA. Rồi đây, biết đâu chẳng xẩy ra trường hợp ta sẽ bị dồn vào những tình thế bị bóc lột như thế.
Tuy nhiên, nói như vậy, không phải là mong cho có trường hợp đó, mà chỉ cốt lưu ý về một tình trạng không may có thể xẩy ra, để ta tìm cách đề phòng và đối phó.
Tin là từ bỏ mình, ký thác vào Chúa
Bị dồn ép, cưỡng đoạt trong đêm tối của gian lao, thử thách, tín hữu không biết cầu cứu ai, ngoài ra CHÚA. Tin vào sức mình ư ? Tốt lắm. Nhưng, dù sao, sức mình cũng có hạn và lắm khi bị não nề, chua chát, con người xem ra cũng hoài nghi chính mình, dù đã cố công tranh đấu. Đó là giờ của nao núng, thất vọng. Mà ai dám tự phụ không bao giờ nao núng, chán nản, thất vọng ? Bởi vậy, cần phải huy động lòng tin nơi Chúa, ký thác và bám chặt vào người như một bức thành kiên cố. Phải chăng như vậy là thoái nhiệm, không còn gì là khí thế hiên ngang của con người tự trọng, biết tự mình trách nhiệm lấy đời mình mà không ỷ lại, bám víu vào một thế lực nào khác, dù là thế lực thần thiêng, siêu việt ? Không. Từ bỏ mình và ký thác vào Chúa là một hành động công nhận giới hạn thụ tạo của mình và chứng tỏ uy thế của Đấng Tối Cao. Đó cũng không phải là ươn hèn, khoán trắng mọi việc cho Chúa như người ta nghĩ, vì giữa tín nhiệm và khoán trắng khác nhau : tín nhiệm là một động tác thân tình, thiện cảm, trọng kính, còn khoán trắng là một hành vi ươn lười, ích kỷ, lợi dụng.
Nhưng tại sao phải từ bỏ mình và ký thác vào Chúa ? Tự nhiên, con người thường có khuynh hướng cao tôn, độc lập đối với Thiên Chúa, do ảnh hưởng di truyền của tội nguyên tổ, thành ra dễ trở nên một chướng ngại ngăn cản đường tiếp xúc với Người. Vì thế, cần dẹp bỏ tính tự phụ, công nhận chủ quyền tuyệt đối của Thiên Chúa và ký thác vận mệnh mình trong tay Người, để xin người đoái thương đến thân phận mong manh của ta mà ra tay cứu độ. Trông nhờ ở một quyền năng tuyệt đối như Thiên Chúa trong những đêm đen dày đặc của hoài nghi, hoang mang, chán nản, lo lắng không phải là một hành vi làm giảm thiểu khí thế con người, mà trái lại còn là một cử chỉ kêu cầu hợp lý, chứng tỏ giới hạn của bản tính con người. Đàng khác, không gì phải xấu hổ khi thấy mình phải tuỳ thuộc ở một Đấng đã ban chính sự sống cho ta như Chúa, giống như con cái tùy thuộc, tín nhiệm và ký thác đời mình cho cha mẹ. Cha mẹ càng quí con, khi thấy nó hiếu nghĩa, đặt hết tín nhiệm và chân thành trông nhờ ở mình. Hơn nữa, Chúa lại coi ký thác như một điều kiện cần có nơi ta để Người can thiệp : “Vậy, anh em đừng lo lắng tự hỏi : ta sẽ ăn gì, uống gì hay mặc gì đây ? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha của anh em ở trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết, hãy tìm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy anh em đừng lo lắng về ngày mai : ngày mai, cứ để ngày mai lo.” (Mt 6,31-34; Lc 12,29-31)
II- ĐỨC TIN : ĐÒI HỎI CĂN BẢN TRONG ĐỜI TÍN HỮU.
Tin là sáp nhập vào Chúa Ki-tô
Công đồng Va-ti-ca-nô II, khi muốn định nghĩa Ki-tô hữu, đã lấy chính Chúa Ki-tô để làm công việc đó. Điều này thật hiển nhiên vì Ki-tô hữu là người thuộc Chúa Ki-tô, bởi Chúa
Ki-tô mà ra. Vì thế, trong các từ ngữ phương Tây, danh hiệu Ki-tô hữu thường được rút ra từ tiếng Ki-tô, như Christus, christianus (La tinh); Christ, chrétien (Pháp); Christus, der christ, die christen (Đức); Christ, christian (Anh). Bởi vậy, Công đồng viết: “Ki-tô hữu công khai xưng tụng Đức Giê-su là Chúa và Chủ, Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, để tôn vinh Thiên Chúa độc nhất là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần’. (1) Đó là chân lý căn bản, thiết yếu của Ki-tô giáo, trung tâm cốt yếu và sống động của Đức tin. Vả chăng, ngay từ đầu khi đạo Chúa Ki-tô hữu : ‘Chính tại An-ti-ô-khi-a mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Ki-tô hữu”, (Act 11,26) vì họ đã đón nhận Tin Mừng của Chúa Giê-su; họ là những người theo đường lối Chúa Ki-tô Bởi đâu, họ được phân loại như thế, nếu không phải vì họ tin theo Chúa Ki-tô ? Chính niềm tin vào Người đã qui định thành phần cho họ. Đức tin đã ràng buộc chặt chẽ họ vào một ngôi vị sống động là Giê-su Cứu Chúa. Với họ, tin đã trở nên một hành động lựa chọn giữa hai đối tượng : một bên là Chúa Ki-tô, còn một bên là người, vật, chủ nghĩa và bao sức hấp dẫn khác. Tuy nhiên, sự lựa chọn này có tính tự do và ý thức, căn cứ trên sự nhận biết và ưng theo. Vì thế, tin trước hết là một ân huệ Chúa ban, sau là một hành vi cá nhân, độc lập, xây dựng trên việc ý thức và nhận định rõ ràng Đấng mình tin theo. Do đó tin là trở thành môn đồ sống động của Đức Ki-tô, lấy Người làm tiêu chuẩn sống : “Vì đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1,21), một đời sống quyết liệt, nhất thiết cái gì cũng được qui định bởi đức tin để trở nên người công chính, vì “Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống,” (Rm 1,16), và mặc lấy chính những tâm tình của Chúa Ki-tô. Thành ra, đức tin là một đòi hỏi căn bản trong đời Ki-tô hữu. Có đức tin và sống theo đức tin vào Chúa Ki-tô mới gọi được là tín hữu. Bỏ đức tin ra ngoài, người ta có thể là gì khác mà không phải tín hữu của Chúa. Đây cũng chính là điều kiện cần thiết để được cứu rỗi. Quả vậy, trong cuộc
(1)Les actes du Concile Vatican II, Editions du Cerf, Paris 1966: Décret sur I’oecuménisme trang 218, số 20
đời truyền đạo, Chúa Giê-su hằng luôn luôn tha thiết kêu gọi người ta đặt tin tưởng vào Tin Mừng Người loan báo: ‘Thời kỳ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy hối cải và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1,15).
Hối lỗi và tin tưởng là hai điều kiện gắn liền với nhau để được cứu rỗi. Và khi tin, không còn phải sợ: ”Đừng sợ, cứ việc tin”(Mc 5,35-36, Lc 8,49-50), vì người tin làm được mọi sự: “Đối với người tin, mọi việc đều có thể làm được.” (Mc 9,22-23).
Đó là trường hợp của người bất toại : “Này con,cứ yên tâm, tội con đươc tha rồi (Mt 9,2: Mc 2,5: Lc 5,20); người đàn bà tội lỗi (x. Lc 7,30); người mắc bệnh loạn huyết (x.Mt 9,22); người mù mang tên Bạc-ti-mê (x. Mc 10,52; Lc 18,42) người cùi ân nghĩa (x. Lc 17,19). Tất cả đều đã vì tin mà được cứu sống.
Tin là gặp gỡ, tiếp xúc với Thiên Chúa
Tuy nhiên, tin không phải là một thái độ chấp nhận hờ hững, mà chính là một hành động dấn thân, đưa con người tới gặp Thiên Chúa một cách mật thiết mạnh mẽ. Gặp gỡ thân tình là biểu chứng của lòng tin yêu và điều kiện tất yếu để tăng cường đức tin của con người đối với Thiên Chúa. Chính trong sự tiếp xúc với Chúa mà tín hữu thêm hiểu và mến yêu Người. Bởi vậy, thiếu tiếp xúc, gặp gỡ Thiên Chúa, đức tin của ta sẽ mơ hồ cằn cỗi. Sự gặp gỡ dần dà sẽ giúp ta khám phá Chúa mỗi ngày một hơn, để hình ảnh của Người bộc lộ dưới mắt ta với tất cả vẻ trìu mến, hấp dẫn, yêu thương và tiếng nói của Người trở nên ngọt ngào, linh động như vua Đa-vít, người có kinh nghiệm về Chúa đã nói: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy : hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người” (Tv 34,9)
Tuy nhiên, kinh nghiệm này có tính cá nhân, chỉ dành riêng cho những người chịu tìm làm quen với Chúa. Dù vậy, nhiều khi tìm gặp Chúa để gây thứ cảm xúc ngọt ngào êm ái này, người ta vẫn không thấy toại nguyện, vì cũng có khi Chúa như lẩn trốn và không chịu trao đổi cảm xúc này với người chủ tâm đi tìm nó. Đó là lúc Người muốn thử thách những ai tin Người và tước đoạt nơi họ mọi hình thức cảm xúc, để chỉ còn giữ lại niềm tin trong sáng như một điểm son đã được thanh luyện. Đây là niềm tin thanh thoát, bám chặt vào Chúa một cách vô vị lợi. Đó mới đích thực là tin, nghĩa là hoàn toàn xác tín những lời Chúa nói, những việc Chúa làm mà không cần phải thấu cảm thấy gì cả. Tuy nhiên, phải trưởng thành trong đức tin mới có được thái độ này và tập cho quen gỡ mình cho khỏi khuynh hướng tìm kiếm và yêu chuộng những rung cảm giác quan trong sinh hoạt đạo đức, đành rằng những thứ đó cũng góp phần thúc đẩy và tăng thêm lòng sốt sắng. Nhưng, không nên quá bận tâm, lệ thuộc vào chúng đến nỗi chỉ tưởng mình đạo đức, thánh thiện khi được chúng yểm trợ. Phải chăng vì vậy, Chúa mới nói : ”Nhưng giờ đã đến và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thật sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật. Quả thế, Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như vậy”(Ga 4,23-24), trong lần tiếp xúc với thiếu phụ xứ Sa-ma-ri và khi bày tỏ thái độ với những ai yêu cầu Người cho xuất hiện vài điều lạ (x. Lc 11,29)
Đòi hỏi của Đức Tin
Tin như thế thật là đòi hỏi, vì nó bắt ta phải gạn lọc, gan dạ và suy tính đến độ gần như bị bóc lột hết, để chỉ còn giữ lại trong ta cái phần tinh hảo nhất : CHÚA. Rồi đây, biết đâu chẳng xẩy ra trường hợp ta sẽ bị dồn vào những tình thế bị bóc lột như thế.
Tuy nhiên, nói như vậy, không phải là mong cho có trường hợp đó, mà chỉ cốt lưu ý về một tình trạng không may có thể xẩy ra, để ta tìm cách đề phòng và đối phó.
Tin là từ bỏ mình, ký thác vào Chúa
Bị dồn ép, cưỡng đoạt trong đêm tối của gian lao, thử thách, tín hữu không biết cầu cứu ai, ngoài ra CHÚA. Tin vào sức mình ư ? Tốt lắm. Nhưng, dù sao, sức mình cũng có hạn và lắm khi bị não nề, chua chát, con người xem ra cũng hoài nghi chính mình, dù đã cố công tranh đấu. Đó là giờ của nao núng, thất vọng. Mà ai dám tự phụ không bao giờ nao núng, chán nản, thất vọng ? Bởi vậy, cần phải huy động lòng tin nơi Chúa, ký thác và bám chặt vào người như một bức thành kiên cố. Phải chăng như vậy là thoái nhiệm, không còn gì là khí thế hiên ngang của con người tự trọng, biết tự mình trách nhiệm lấy đời mình mà không ỷ lại, bám víu vào một thế lực nào khác, dù là thế lực thần thiêng, siêu việt ? Không. Từ bỏ mình và ký thác vào Chúa là một hành động công nhận giới hạn thụ tạo của mình và chứng tỏ uy thế của Đấng Tối Cao. Đó cũng không phải là ươn hèn, khoán trắng mọi việc cho Chúa như người ta nghĩ, vì giữa tín nhiệm và khoán trắng khác nhau : tín nhiệm là một động tác thân tình, thiện cảm, trọng kính, còn khoán trắng là một hành vi ươn lười, ích kỷ, lợi dụng.
Nhưng tại sao phải từ bỏ mình và ký thác vào Chúa ? Tự nhiên, con người thường có khuynh hướng cao tôn, độc lập đối với Thiên Chúa, do ảnh hưởng di truyền của tội nguyên tổ, thành ra dễ trở nên một chướng ngại ngăn cản đường tiếp xúc với Người. Vì thế, cần dẹp bỏ tính tự phụ, công nhận chủ quyền tuyệt đối của Thiên Chúa và ký thác vận mệnh mình trong tay Người, để xin người đoái thương đến thân phận mong manh của ta mà ra tay cứu độ. Trông nhờ ở một quyền năng tuyệt đối như Thiên Chúa trong những đêm đen dày đặc của hoài nghi, hoang mang, chán nản, lo lắng không phải là một hành vi làm giảm thiểu khí thế con người, mà trái lại còn là một cử chỉ kêu cầu hợp lý, chứng tỏ giới hạn của bản tính con người. Đàng khác, không gì phải xấu hổ khi thấy mình phải tuỳ thuộc ở một Đấng đã ban chính sự sống cho ta như Chúa, giống như con cái tùy thuộc, tín nhiệm và ký thác đời mình cho cha mẹ. Cha mẹ càng quí con, khi thấy nó hiếu nghĩa, đặt hết tín nhiệm và chân thành trông nhờ ở mình. Hơn nữa, Chúa lại coi ký thác như một điều kiện cần có nơi ta để Người can thiệp : “Vậy, anh em đừng lo lắng tự hỏi : ta sẽ ăn gì, uống gì hay mặc gì đây ? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha của anh em ở trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết, hãy tìm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy anh em đừng lo lắng về ngày mai : ngày mai, cứ để ngày mai lo.” (Mt 6,31-34; Lc 12,29-31)