TỪ THIÊN KIẾN NGỘ NHẬN ĐẾN XÁC TÍN VỀ TIN
Tựa sách
Đây không phải là một cuốn sách bàn về đức tin với phần đoạn chương tiết, như nhiều sách uyên bác của các nhà thần học đã xuất bản, mà chỉ là những bài viết bình thường do hoàn cảnh sống từ mấy chục năm qua xui khiến.
Những bài này được viết ra theo cảm nghiệm riêng, nhằm nói lên sự cần thiết của đức tin trong đời. Mong rằng sự cần thiết ấy sẽ giúp ích cho người tin, để vun trồng và giáo dục đức tin của mình cho thật vững vàng và lớn mạnh. Sự vững mạnh của đức tin sẽ là một bảo đảm cho người tin có được niềm vui và sự bình an trong tâm hồn, dù gặp phải gian nan vất vả hay những hoàn cảnh nghiệt ngã.
Thánh Phao-lô nói : “Hiện nay tôi sống trong xác phàm là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa.” (Gl 2, 20) Thánh nhân đã sống và đã tin. Cuộc đời của ngài là một bằng chứng sống động về giá trị và sức mạnh của lòng tin,
Nhưng tin không dễ. Đó là một ơn huệ lớn lao Chúa ban cho mỗi người. Có đức tin và một đức tin vững mạnh thật là một điều hạnh phúc. Các Tông đồ xưa kia ở bên Chúa, ở với Chúa mà vẫn yếu kém lòng tin thì phương chi là chúng ta bây giờ. Điều ấy muốn nói với chúng ta rằng chúng ta phải năng cầu xin và đề ý đến việc săn sóc đức tin của mình bằng việc cầu nguyện, gặp gỡ, tiếp xúc với Thiên Chúa trong nội cung lòng ta và bằng việc lắng nghe, tiếp thu lời Người, vì
“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho chúng ta bước,
là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta đi.” Tv 118,105)
Lm An-rê Đỗ Xuân Quế, OP
TỪ THIÊN KIẾN NGỘ NHẬN ĐẾN XÁC TÍN VỀ TIN
I- NHỮNG PHẢN ỨNG TIÊU BIỂU
Mới đây tại một xứ đạo kia trong một thành phố lớn, sau buổi tĩnh tâm cho các nữ sinh cấp ba, để chuẩn bị cho họ đón mừng lễ Phục sinh, người ta kể lại trong đám nữ sinh đó, nhiều cô đã có những phản ứng rất tiêu biểu về đạo và Chúa. Chẳng hạn, trong giờ trao đổi, có cô đã công khai nói rằng bây giờ nghe nói về Chúa thấy lạ tai, lạc điệu và kỳ cục. Có cô đã nhắn khéo cha giảng nên nói những gì thật cụ thể, đừng lý thuyết trừu tượng. Và tội nghiệp cho cha giảng, sau khi đã vận dụng cả khoa ngôn ngữ cụ thể cùng với một mớ kiến thức đạo lý vững vàng về mầu nhiệm phục sinh qua đề tài Chúa Ki-tô, sự sống và sự sống lại của chúng ta, cử tọa đã tỏ ra ngơ ngác và có người đã hỏi : “Phục sinh là gì vậy”’
Được giải thích cặn kẽ về ý nghĩa của hai chữ đó, xem chừng họ thấy ý nhị, thâm thúy, nên muốn áp dụng ngay bằng cách đưa ra một khẩu hiệu nghe rất hấp dẫn: phục sinh môi trường!
Tuy nhiên, họ chỉ muốn phục sinh môi trường mà không đả động gì đến Chúa Phục sinh ! Sở dĩ như vậy, vì theo họ, nói đến Chúa ngán lắm, không ai muốn nghe ! Đàng khác, nhiều người lại sẵn thiên kiến về đạo và Chúa, nên càng tránh được bao nhiêu hay bấy nhiêu !
Điều này không sai bao nhiêu, nếu ta tiếp xúc với giới trẻ ngày nay và tìm hiểu tâm trạng của họ phát hiện qua những lập luận về tình thế, cuộc đời và những vấn đề thiết thân trước mắt, như tình yêu, chiến tranh, sự chết, tiền bạc, hạnh phúc v.v...
Một vài phản ứng tiêu biểu trên đây, cũng như bao phản ứng khác về cùng một vấn đề liên quan đến Chúa như đức tin, đạo đức, lương tâm v.v... cho ta thấy giới trẻ ngày nay, một phần khá lớn, ngán Chúa và không muốn nghe nói về Người. Mà không riêng gì giới trẻ, người lớn cũng thế, trừ một số người đứng tuổi vẫn sống trong không khí sinh hoạt tôn giáo cổ truyền, theo những tập tục đáng quí từ ngàn xưa để lại. Do đấy, chắc hẳn Chúa không chiếm một địa vị ngang hàng với một vấn đề thời sự, và nói theo ngôn ngữ kinh tế, dường như Người đã bị xuống giá trong thời đại ta ngày nay.
Nhưng, không phải bây giờ Chúa mới bị đặt thành vấn đề, mà ngay từ xa xưa, trong lịch sử Do thái, lịch sử một dân được Chúa bầy tỏ cho những dự định cao cả về ơn cứu thoát, đồng thời được chứng kiến bao biến cố vĩ đại để làm dấu thị thực cho những dự định kia, vẫn có người chê cười, khiêu khích : “Chúa của họ ở đâu” ?, (x. Tv 53,2) khiến cho người công chính phải ngậm ngùi thở than cùng Chúa: “Lạy Chúa! Sao Chúa nỡ bỏ con để đối phương chê cười con ?” (x. Tv 42,10).
Rồi đến thời Chúa Cứu Thế, lúc bị treo trên thập gíá như một tên tử tội, dân chúng qua lại đã mỉa mai : “Ông ta đã cứu được bao người, còn chính thân mình, ông không tự cứu nổi ! Ông là Vua dân Do thái, bây giờ ông hãy xuống khỏi thập giá đi và chúng tôi sẽ tin ông!” (x. Mt 27,42; Mác-cô 15,31-32). Đáp lại thái độ khinh thường và thách thức đó, Chúa Ki-tô đã chỉ yên lặng, vì biết rằng nếu bảo mình là Đấng Cứu Thế, họ cũng sẽ chẳng tin: ‘Tôi có nói với các ông, các ông cũng chẳng tin”. (Lc 22,67). Trong những trường hợp khác, đôi lần Người cũng đã trả lời, nhưng để nói rằng thời cơ chưa đến, chẳng hạn khi bà con thôi thúc Người phải xuất hiện làm một cái gì cho người đời biết tay : “Ông hãy bỏ đây mà đi sang miền Giu-đê, để các môn đệ của ông cũng được nhìn thấy những việc ông làm, vì không ai muốn nổi danh mà lại hoạt động âm thầm. Nếu ông làm những việc ấy thì hãy tỏ mình ra cho thiên hạ. Thật thế, anh em Người không tin vào người. Đức Giê-su nói với họ : “Thời của tôi chưa đến, nhưng thời của các anh lúc nào cũng thuận tiện. Thế gian không thể ghét các anh, nhưng tôi thì nó ghét, vì tôi làm chứng rằng các việc nó làm là xấu xa.” (Ga 7,3-8)
Tiếp đến thời đế quốc La-mã, Trung cổ, Phục hưng thế kỷ XV, XVI, phong trào Duy lý và Cách mạng Pháp thế kỷ XVIII, thời kỹ nghệ phát triển thế kỷ XIX, phong trào thợ thuyền cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và còn kéo dài tới nay, sự xáo trộn theo sau Đệ nhị Thế chiến cùng những ý thức hệ mới mẻ hấp dẫn, song song với những thực hiện vĩ đại của khoa học kỹ thuật ở thời đại nguyên tử và vệ tinh nhân tạo, chen lộn với cảnh cùng cực túng đói của 2/3 nhân loại và sự sa đọa về nhân phẩm, tất cả đều như góp phần vào việc đặt Chúa thành vấn đề và xô đẩy con người đi đến chỗ bất cần Chúa, nếu không muốn nói là phải phủ nhận Người.
Có điều xem ra như khó hiểu là trước những tấn công khiêu khích và những cùng khổ của con người như vậy, dường như Chúa vẫn yên lặng xa vắng, một sự yên lặng xa vắng mênh mông, phức tạp, pha lộn bi đát, có thể làm cho con người hoài nghi, nao núng, phẫn nộ. Tâm trạng đó đã được diễn tả một phần nào qua đoạn văn dưới đây :
“... Ba người tử tội cùng bước lên ghế. Ba cái cổ cùng một lúc bị tròng qua những sợi dây thắt nút lòng thòng.
- Tự do muôn năm ! Hai người lớn hô to tiếng.
Còn em nhỏ cứ yên lặng.
- Đức Chúa Trời ở đâu, Người ở đâu nhỉ ? Một người đứng sau tôi cất tiếng hỏi như thế.
***
‘... Chúc tụng danh Đấng Cao cả hằng có đời đời !
Tiếng vị chủ tế vừa vang lên. Thoạt tiên, tôi tưởng đó là tiếng gió thổi. Hàng ngàn cái miệng lặp lại lời tung hô đó. Họ cúi rạp mình xuống như cây cỏ trong cơn bão táp.
- Chúc tụng danh Đấng cao cả hằng có đời đời !
Tại sao, mà tại sao tôi lại phải chúc tụng Người ? Tất cả mọi đường gân thớ thịt trong tôi đều nổi lên chống đối. Phải chăng, bởi vì Người đã làm cho hàng ngàn trẻ em bị chết trong phòng hơi ngạt ? Phải chăng, bởi vì Người đã để cho sáu cái lò hỏa thiêu hoạt động đêm ngày, cả ngày Sa-bát (ngày nghỉ Do thái) cũng như những ngày lễ ? Phải chăng, bởi vì Người đã lấy quyền năng cao cả dựng lên các trại tập trung Auschwitz, Birkenau, Buna và biết bao nhà máy giết người khác ? Tôi nói với Người thế nào được: “Chúc tụng Đấng Cao cả hằng có đời đời, Chủ tế vạn vật, đã chọn chúng tôi trong các dân tộc để bị hành hạ, tra tấn ngày đêm, để nhìn cha mẹ, anh em chúng tôi kết liễu cuộc đời trong lò hỏa thiêu. Chúc tụng danh Chúa, Đấng đã chọn chúng tôi để bị cắt cổ trên bàn thờ Chúa ?”
***
... ‘Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được cái đêm này, đêm đầu tiên sống trong trại tập trung, cái đêm đã biến đời tôi thành một đêm dài và bị khoá kín bằng bẩy tầng khóa.
Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được làn khói ấy.
Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được gương mặt bé nhỏ của những trẻ em mà tôi đã nhìn thấy xác chúng biến thành những làn khói dưới một bầu trời câm lặng.
Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được những ngọn lửa đã tiêu tán trọn vẹn muôn đời đức tin của tôi.
Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được cái yên lặng trong đêm dài đã làm cho tôi mất hẳn mãi mãi lòng ham muốn.
Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được những giây phút đã giết chết Chúa tôi và hồn tôi và những giấc mơ của tôi để biến chúng thành sa mạc. Chẳng bao giờ tôi quên được điều đó, dù tôi có bị kết án sống lâu như chính Chúa. Chẳng bao giờ!’ (1)
Chúa yên lặng và xa vắng! Sartre đã không ngần ngại gọi Chúa là người xa vắng nhất trong cõi người ta qua tiểu thuyết Le diable et le Bon Dieu của ông. Bonhưffer trong trại giam của Đức Quốc xã cũng đã quằn quại vì sự xa vắng này trong các thư ông viết hồi đó. Ông là mục sư thệ phản, bị bắt ngày 5-4-1943 lúc 37 tuổi, vì thái độ chống đối Quốc xã, và cuối cùng bị Công an xung phong Quốc xã (S.S.) treo cổ ngày 9-4-1945. Bị giam trong tù, nhiều lần ông đã chứng kiến cảnh các bạn đồng hội bị hành quyết. Trong những giờ phút bi thảm đó, ông thấy không thể nói về Chúa và đạo như người ta vẫn thường làm từ trước tới nay. Điều này khiến ông đặt lại một cách mới vấn đề thế gian, Giáo hội và Chúa Ki-tô. Theo ông, con người ngày nay đang đi dần đến chỗ hoàn toàn vô tôn giáo. Họ phớt luôn cả Người trong cuộc sống và coi Người chẳng còn ích lợi gì cho cuộc đời. (2)
Rudolf Bultmann tuy không nói gì về sự yên lặng của Chúa, nhưng ông đã muốn loại trừ mọi vẻ thần thánh nơi Chúa Ki-tô và đặt lại vấn đề phép lạ cũng như những hành vi cử chỉ của Người trong Phúc âm. Ông đã đề cập tới vấn đề này trong một tác phẩm của ông. Theo ông, Chúa Ki-tô chỉ là một người Do thái như bao người Do thái khác hồi đó. Danh tính Người Chúa gửi đến là một huyền thoại do tín hữu Giê-ru-sa-lem tạo nên, rồi lưu truyền từ đời này qua đời khác. (3)
Những điều mới nói trên đây về thế giới hiện đại, cộng thêm ảnh hưởng của các nền văn hóa nhân bản vô thần và thời cuộc, chiến tranh, bạo lực khắp nới, hình như đã làm cho lòng người thêm chai đá, kém tin tưởng và mất cả hy vọng vào những giá trị bền vững do Chúa Cứu Thế giảng dạy. Đạo xem ra cũng mất phần nghĩa lý và không đủ hấp lực đưa con người lại gần Thiên Chúa. Vì thế, Đức Phao-lô VI đã ban bố sắc lệnh Petrum et Paulum ngày 22-2-1967, quyết định đặt năm 1967-1968 là năm Đức Tin, và trong phần nói về lý do của hành động này, ngài đã nhấn mạnh : “Dân Chúa ngày nay phải ý thức lại một cách rõ rệt về đức tin của mình để hồi sinh, thanh luyện, củng cố và tuyên xưng đức tin đó ra trước mặt thiên hạ. Đó là nhu cầu cấp bách hiện thời, vì thế giới hiện đại, trong những phạm vi trần thế, đã thực hiện được những điều lạ lùng, nên tự phụ với ý thức mỗi ngày một lớn về mình, mà lãng quên và chối bỏ Thiên Chúa’. (4)
(Còn tiếp)
Nguồn: www.dunglac.net
Tựa sách
Đây không phải là một cuốn sách bàn về đức tin với phần đoạn chương tiết, như nhiều sách uyên bác của các nhà thần học đã xuất bản, mà chỉ là những bài viết bình thường do hoàn cảnh sống từ mấy chục năm qua xui khiến.
Những bài này được viết ra theo cảm nghiệm riêng, nhằm nói lên sự cần thiết của đức tin trong đời. Mong rằng sự cần thiết ấy sẽ giúp ích cho người tin, để vun trồng và giáo dục đức tin của mình cho thật vững vàng và lớn mạnh. Sự vững mạnh của đức tin sẽ là một bảo đảm cho người tin có được niềm vui và sự bình an trong tâm hồn, dù gặp phải gian nan vất vả hay những hoàn cảnh nghiệt ngã.
Thánh Phao-lô nói : “Hiện nay tôi sống trong xác phàm là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa.” (Gl 2, 20) Thánh nhân đã sống và đã tin. Cuộc đời của ngài là một bằng chứng sống động về giá trị và sức mạnh của lòng tin,
Nhưng tin không dễ. Đó là một ơn huệ lớn lao Chúa ban cho mỗi người. Có đức tin và một đức tin vững mạnh thật là một điều hạnh phúc. Các Tông đồ xưa kia ở bên Chúa, ở với Chúa mà vẫn yếu kém lòng tin thì phương chi là chúng ta bây giờ. Điều ấy muốn nói với chúng ta rằng chúng ta phải năng cầu xin và đề ý đến việc săn sóc đức tin của mình bằng việc cầu nguyện, gặp gỡ, tiếp xúc với Thiên Chúa trong nội cung lòng ta và bằng việc lắng nghe, tiếp thu lời Người, vì
“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho chúng ta bước,
là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta đi.” Tv 118,105)
Lm An-rê Đỗ Xuân Quế, OP
TỪ THIÊN KIẾN NGỘ NHẬN ĐẾN XÁC TÍN VỀ TIN
I- NHỮNG PHẢN ỨNG TIÊU BIỂU
Mới đây tại một xứ đạo kia trong một thành phố lớn, sau buổi tĩnh tâm cho các nữ sinh cấp ba, để chuẩn bị cho họ đón mừng lễ Phục sinh, người ta kể lại trong đám nữ sinh đó, nhiều cô đã có những phản ứng rất tiêu biểu về đạo và Chúa. Chẳng hạn, trong giờ trao đổi, có cô đã công khai nói rằng bây giờ nghe nói về Chúa thấy lạ tai, lạc điệu và kỳ cục. Có cô đã nhắn khéo cha giảng nên nói những gì thật cụ thể, đừng lý thuyết trừu tượng. Và tội nghiệp cho cha giảng, sau khi đã vận dụng cả khoa ngôn ngữ cụ thể cùng với một mớ kiến thức đạo lý vững vàng về mầu nhiệm phục sinh qua đề tài Chúa Ki-tô, sự sống và sự sống lại của chúng ta, cử tọa đã tỏ ra ngơ ngác và có người đã hỏi : “Phục sinh là gì vậy”’
Được giải thích cặn kẽ về ý nghĩa của hai chữ đó, xem chừng họ thấy ý nhị, thâm thúy, nên muốn áp dụng ngay bằng cách đưa ra một khẩu hiệu nghe rất hấp dẫn: phục sinh môi trường!
Tuy nhiên, họ chỉ muốn phục sinh môi trường mà không đả động gì đến Chúa Phục sinh ! Sở dĩ như vậy, vì theo họ, nói đến Chúa ngán lắm, không ai muốn nghe ! Đàng khác, nhiều người lại sẵn thiên kiến về đạo và Chúa, nên càng tránh được bao nhiêu hay bấy nhiêu !
Điều này không sai bao nhiêu, nếu ta tiếp xúc với giới trẻ ngày nay và tìm hiểu tâm trạng của họ phát hiện qua những lập luận về tình thế, cuộc đời và những vấn đề thiết thân trước mắt, như tình yêu, chiến tranh, sự chết, tiền bạc, hạnh phúc v.v...
Một vài phản ứng tiêu biểu trên đây, cũng như bao phản ứng khác về cùng một vấn đề liên quan đến Chúa như đức tin, đạo đức, lương tâm v.v... cho ta thấy giới trẻ ngày nay, một phần khá lớn, ngán Chúa và không muốn nghe nói về Người. Mà không riêng gì giới trẻ, người lớn cũng thế, trừ một số người đứng tuổi vẫn sống trong không khí sinh hoạt tôn giáo cổ truyền, theo những tập tục đáng quí từ ngàn xưa để lại. Do đấy, chắc hẳn Chúa không chiếm một địa vị ngang hàng với một vấn đề thời sự, và nói theo ngôn ngữ kinh tế, dường như Người đã bị xuống giá trong thời đại ta ngày nay.
Nhưng, không phải bây giờ Chúa mới bị đặt thành vấn đề, mà ngay từ xa xưa, trong lịch sử Do thái, lịch sử một dân được Chúa bầy tỏ cho những dự định cao cả về ơn cứu thoát, đồng thời được chứng kiến bao biến cố vĩ đại để làm dấu thị thực cho những dự định kia, vẫn có người chê cười, khiêu khích : “Chúa của họ ở đâu” ?, (x. Tv 53,2) khiến cho người công chính phải ngậm ngùi thở than cùng Chúa: “Lạy Chúa! Sao Chúa nỡ bỏ con để đối phương chê cười con ?” (x. Tv 42,10).
Rồi đến thời Chúa Cứu Thế, lúc bị treo trên thập gíá như một tên tử tội, dân chúng qua lại đã mỉa mai : “Ông ta đã cứu được bao người, còn chính thân mình, ông không tự cứu nổi ! Ông là Vua dân Do thái, bây giờ ông hãy xuống khỏi thập giá đi và chúng tôi sẽ tin ông!” (x. Mt 27,42; Mác-cô 15,31-32). Đáp lại thái độ khinh thường và thách thức đó, Chúa Ki-tô đã chỉ yên lặng, vì biết rằng nếu bảo mình là Đấng Cứu Thế, họ cũng sẽ chẳng tin: ‘Tôi có nói với các ông, các ông cũng chẳng tin”. (Lc 22,67). Trong những trường hợp khác, đôi lần Người cũng đã trả lời, nhưng để nói rằng thời cơ chưa đến, chẳng hạn khi bà con thôi thúc Người phải xuất hiện làm một cái gì cho người đời biết tay : “Ông hãy bỏ đây mà đi sang miền Giu-đê, để các môn đệ của ông cũng được nhìn thấy những việc ông làm, vì không ai muốn nổi danh mà lại hoạt động âm thầm. Nếu ông làm những việc ấy thì hãy tỏ mình ra cho thiên hạ. Thật thế, anh em Người không tin vào người. Đức Giê-su nói với họ : “Thời của tôi chưa đến, nhưng thời của các anh lúc nào cũng thuận tiện. Thế gian không thể ghét các anh, nhưng tôi thì nó ghét, vì tôi làm chứng rằng các việc nó làm là xấu xa.” (Ga 7,3-8)
Tiếp đến thời đế quốc La-mã, Trung cổ, Phục hưng thế kỷ XV, XVI, phong trào Duy lý và Cách mạng Pháp thế kỷ XVIII, thời kỹ nghệ phát triển thế kỷ XIX, phong trào thợ thuyền cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và còn kéo dài tới nay, sự xáo trộn theo sau Đệ nhị Thế chiến cùng những ý thức hệ mới mẻ hấp dẫn, song song với những thực hiện vĩ đại của khoa học kỹ thuật ở thời đại nguyên tử và vệ tinh nhân tạo, chen lộn với cảnh cùng cực túng đói của 2/3 nhân loại và sự sa đọa về nhân phẩm, tất cả đều như góp phần vào việc đặt Chúa thành vấn đề và xô đẩy con người đi đến chỗ bất cần Chúa, nếu không muốn nói là phải phủ nhận Người.
Có điều xem ra như khó hiểu là trước những tấn công khiêu khích và những cùng khổ của con người như vậy, dường như Chúa vẫn yên lặng xa vắng, một sự yên lặng xa vắng mênh mông, phức tạp, pha lộn bi đát, có thể làm cho con người hoài nghi, nao núng, phẫn nộ. Tâm trạng đó đã được diễn tả một phần nào qua đoạn văn dưới đây :
“... Ba người tử tội cùng bước lên ghế. Ba cái cổ cùng một lúc bị tròng qua những sợi dây thắt nút lòng thòng.
- Tự do muôn năm ! Hai người lớn hô to tiếng.
Còn em nhỏ cứ yên lặng.
- Đức Chúa Trời ở đâu, Người ở đâu nhỉ ? Một người đứng sau tôi cất tiếng hỏi như thế.
***
‘... Chúc tụng danh Đấng Cao cả hằng có đời đời !
Tiếng vị chủ tế vừa vang lên. Thoạt tiên, tôi tưởng đó là tiếng gió thổi. Hàng ngàn cái miệng lặp lại lời tung hô đó. Họ cúi rạp mình xuống như cây cỏ trong cơn bão táp.
- Chúc tụng danh Đấng cao cả hằng có đời đời !
Tại sao, mà tại sao tôi lại phải chúc tụng Người ? Tất cả mọi đường gân thớ thịt trong tôi đều nổi lên chống đối. Phải chăng, bởi vì Người đã làm cho hàng ngàn trẻ em bị chết trong phòng hơi ngạt ? Phải chăng, bởi vì Người đã để cho sáu cái lò hỏa thiêu hoạt động đêm ngày, cả ngày Sa-bát (ngày nghỉ Do thái) cũng như những ngày lễ ? Phải chăng, bởi vì Người đã lấy quyền năng cao cả dựng lên các trại tập trung Auschwitz, Birkenau, Buna và biết bao nhà máy giết người khác ? Tôi nói với Người thế nào được: “Chúc tụng Đấng Cao cả hằng có đời đời, Chủ tế vạn vật, đã chọn chúng tôi trong các dân tộc để bị hành hạ, tra tấn ngày đêm, để nhìn cha mẹ, anh em chúng tôi kết liễu cuộc đời trong lò hỏa thiêu. Chúc tụng danh Chúa, Đấng đã chọn chúng tôi để bị cắt cổ trên bàn thờ Chúa ?”
***
... ‘Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được cái đêm này, đêm đầu tiên sống trong trại tập trung, cái đêm đã biến đời tôi thành một đêm dài và bị khoá kín bằng bẩy tầng khóa.
Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được làn khói ấy.
Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được gương mặt bé nhỏ của những trẻ em mà tôi đã nhìn thấy xác chúng biến thành những làn khói dưới một bầu trời câm lặng.
Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được những ngọn lửa đã tiêu tán trọn vẹn muôn đời đức tin của tôi.
Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được cái yên lặng trong đêm dài đã làm cho tôi mất hẳn mãi mãi lòng ham muốn.
Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được những giây phút đã giết chết Chúa tôi và hồn tôi và những giấc mơ của tôi để biến chúng thành sa mạc. Chẳng bao giờ tôi quên được điều đó, dù tôi có bị kết án sống lâu như chính Chúa. Chẳng bao giờ!’ (1)
Chúa yên lặng và xa vắng! Sartre đã không ngần ngại gọi Chúa là người xa vắng nhất trong cõi người ta qua tiểu thuyết Le diable et le Bon Dieu của ông. Bonhưffer trong trại giam của Đức Quốc xã cũng đã quằn quại vì sự xa vắng này trong các thư ông viết hồi đó. Ông là mục sư thệ phản, bị bắt ngày 5-4-1943 lúc 37 tuổi, vì thái độ chống đối Quốc xã, và cuối cùng bị Công an xung phong Quốc xã (S.S.) treo cổ ngày 9-4-1945. Bị giam trong tù, nhiều lần ông đã chứng kiến cảnh các bạn đồng hội bị hành quyết. Trong những giờ phút bi thảm đó, ông thấy không thể nói về Chúa và đạo như người ta vẫn thường làm từ trước tới nay. Điều này khiến ông đặt lại một cách mới vấn đề thế gian, Giáo hội và Chúa Ki-tô. Theo ông, con người ngày nay đang đi dần đến chỗ hoàn toàn vô tôn giáo. Họ phớt luôn cả Người trong cuộc sống và coi Người chẳng còn ích lợi gì cho cuộc đời. (2)
Rudolf Bultmann tuy không nói gì về sự yên lặng của Chúa, nhưng ông đã muốn loại trừ mọi vẻ thần thánh nơi Chúa Ki-tô và đặt lại vấn đề phép lạ cũng như những hành vi cử chỉ của Người trong Phúc âm. Ông đã đề cập tới vấn đề này trong một tác phẩm của ông. Theo ông, Chúa Ki-tô chỉ là một người Do thái như bao người Do thái khác hồi đó. Danh tính Người Chúa gửi đến là một huyền thoại do tín hữu Giê-ru-sa-lem tạo nên, rồi lưu truyền từ đời này qua đời khác. (3)
Những điều mới nói trên đây về thế giới hiện đại, cộng thêm ảnh hưởng của các nền văn hóa nhân bản vô thần và thời cuộc, chiến tranh, bạo lực khắp nới, hình như đã làm cho lòng người thêm chai đá, kém tin tưởng và mất cả hy vọng vào những giá trị bền vững do Chúa Cứu Thế giảng dạy. Đạo xem ra cũng mất phần nghĩa lý và không đủ hấp lực đưa con người lại gần Thiên Chúa. Vì thế, Đức Phao-lô VI đã ban bố sắc lệnh Petrum et Paulum ngày 22-2-1967, quyết định đặt năm 1967-1968 là năm Đức Tin, và trong phần nói về lý do của hành động này, ngài đã nhấn mạnh : “Dân Chúa ngày nay phải ý thức lại một cách rõ rệt về đức tin của mình để hồi sinh, thanh luyện, củng cố và tuyên xưng đức tin đó ra trước mặt thiên hạ. Đó là nhu cầu cấp bách hiện thời, vì thế giới hiện đại, trong những phạm vi trần thế, đã thực hiện được những điều lạ lùng, nên tự phụ với ý thức mỗi ngày một lớn về mình, mà lãng quên và chối bỏ Thiên Chúa’. (4)
(Còn tiếp)
Nguồn: www.dunglac.net