CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN. C
Lc 15, 1-32
Thưa quí vị,
Trong Hội thánh có những người được Chúa cho trí nhớ rất tốt. Họ đọc thuộc lòng nhiều đoạn Thánh Kinh quan trọng hoặc có thể trích từng câu trong văn cảnh của nó. Ví dụ Thư 1Corintô đoạn …. câu… điều này rất lợi ích trong nhiều hoàn cảnh của cuộc đời. Họ có thể trích dẫn Lời Chúa khi ngắm trăng sao, tinh tú; lúc đầy lòng tạ ơn hay tranh luận tôn giáo. Bất cứ thời điểm nào vui, giận, mừng, lo, họ cũng có thể dùng Lời Chúa để hỗ trợ cho lòng mình. Thực tình, tôi ghen tị với những người ấy. Phần mình, trí nhớ tôi rất tồi. Cố gắng lắm thì cũng chỉ đọc được vài ba câu thơ, nhớ được tên vài cuốn sách. Vậy thì những người giống như tôi, chúng ta phải làm sao để cho được bằng người?
Tương kế, tựu kế; khoẻ dùng sức, yếu dùng mưu. Xin mách quí vị một phương pháp nhỏ để vượt lên sự kém cỏi của mình. Đó là chúng ta phải làm cuộc đi tắt. Thí dụ bài Tin Mừng hôm nay. Nó dài tới hơn 30 câu, làm sao mà nhớ? Vậy thì chỉ tóm gọn vào 3 từ: “Bởi, Nhưng, Vậy” (since, but, so). Mỗi từ có vài chữ tương đương. Nhưng thôi cứ tập trung vào 3 từ ấy cho dễ xử lý. Chúng ta lấy bài Tin Mừng hôm nay làm ví dụ: Từ “bởi vì”: “Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ. Bởi vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”. “Xin chung vui với tôi, bởi vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó”. “Xin chung vui với tôi, bởi vì tôi đã tìm lại đồng quan đã đánh mất”. Từ này nói lên hoàn cảnh mà nhân loại đang ngụp lặn vào, hoặc những cay đắng khốn khổ mà chúng ta nhận ra tình trạng của mình. Chẳng riêng gì bài Phúc âm, bài đọc 1 trích sách Xuất Hành cũng vậy. Thiên Chúa gởi Môsê từ trên núi xuống, bởi vì dân Israel đã trở nên tồi tệ: “Hãy đi xuống, vì dân ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã mang lên từ đất Ai Cập, chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta truyền cho chúng đi”. Thực tế, dân Do Thái đã trở nên “cứng cổ” và xem ra Thiên Chúa đã từ bỏ họ, mặc cho họ đi theo đường lối lầm lạc của mình. Ngài nổi giận, vì dân Do Thái bao phen đã làm Ngài cực lòng.
Tuy nhiên xin đừng vội tự hào, thế giới ngày nay còn tệ hại hơn nhiều. Các dấu chỉ thờ bò vàng nhan nhản khắp hang cùng ngõ hẻm. Đâu đâu cũng thấy dân chúng lập thần tượng “để thờ”: tiền tài, danh vọng, sắc dục, chức quyền, xì ke, ma tuý, bạo lực, trác táng. Dân chúng thế giới ngày nay “cứng cổ” hơn Israel thưở xưa. Bao nhiêu cố gắng hoà đàm, hoà giải đều luống công. Các phương tiện truyền thông hằng ngày về bạo lực, giết chóc, đàn áp dã man, chứng tỏ loài người chẳng thay đổi gì nhiều từ thời Thiên Chúa gọi Israel là “cứng cổ”. Hai năm vừa qua, chiến tranh ở Iraq đã giết chết 900 lính Mỹ, 15.000 thường dân Iraq, bất chấp lời phê phán nhiều lần của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II. Ngài gọi đó là cuộc chiến không cần thiết và bất công (unjust and unnecessary war). Ngoài ra còn nhiều triệu vụ phá thai, giết chết êm dịu,… nghèo đói bẩn thỉu. Cho nên chúng ta có thể diễn tả phần này bằng từ “bởi vì”. Bởi vì những hoàn cảnh khốn đốn của nhân loại do tội lỗi, tính hư nết xấu, gây nên. Chúng tồn tại ngoài ý muốn của Thượng đế. Nó là sự “cứng cổ” của con cháu Adam, Eva. Bởi vì tình trạng của loài người là như vậy. Cho nên lòng thương xót của Thiên Chúa phải chiếu cố để cứu vớt họ. Họ chẳng tự thân thoát ra khỏi số phận nô lệ. Cho nên Đức Chúa Trời phải hành động để họ được giải phóng.
Đến đây thì chữ thứ hai “Nhưng” là cần thiết: Nhưng Môsê đã đứng ra cầu khẩn cho dân (bài đọc 1). Nhưng tôi đã được Người xót thương (bài đọc 2). Nhưng người cha nói với anh ta (phúc âm). Môsê đã lên tiếng thay cho dân tộc tội lỗi. Ông xin Thiên Chúa nhớ lại họ vẫn là dân riêng của Ngài, mặc dù cách đó ít lâu Ngài đã từ chối họ, gọi họ là dân của Môsê chứ không là dân của Thiên Chúa nữa: “Hãy xuống mau vì dân ngươi đã hư hỏng rồi”. Môsê đã thưa lớn: “Nhưng lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai Cập?” Họ là dân của Ngài, dòng dõi các tôi trung Abraham, Isaac, Giacob. Tính chất trung gian của Môsê rất mạnh mẽ, dân Do Thái có thể cậy dựa vào mà được lại lòng Thiên Chúa xót thương. Ông đã xin Ngài nhớ lại những mối dây giàng buộc (khế ước) mà Ngài đã nhiều lần ký kết với họ. Dân này, dù tội lỗi, nhưng vẫn là đối tượng được hưởng lời Ngài đã hứa. Tuy tự thân họ không đáng được lòng Ngài xót thương. “Nhưng” vì long trung tín của Ngài, Ngài không thể quên họ, vẫn ban ơn giải cứu khi họ lâm cảnh khốn cùng. Bằng bất cứ giá nào, họ phải được Ngài ra tay uy quyền cứu giúp. Đó là lý luận của chữ thứ hai.
Chữ thứ ba của các bài đọc hôm nay là: “Vì vậy”, vì vậy Thiên Chúa hối hận không giáng phạt dân Ngài như đã đe doạ. “Vì vậy tôi bảo cho các ông hay, trên trời cũng sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối”. Giọng văn sau “vì vậy” mô tả đầy đủ tình cảm nhân loại được gán cho Đức Chúa Trời. Đây là phần đẹp nhất của câu chuyện, gây nhiều xúc động cho người đọc: Hẳn quí vị đã hiểu ra khía cạnh này, phải không? Vì chẳng ai có thể bỏ qua giây phút vui mừng của tâm hồn được tha thứ. Thiên Chúa quả là người tình vĩ đại của loài người. Ngài chẳng thể bỏ mặc chúng ta quằn quại trong kiếp sống ngục tù tội lỗi, mặc dầu nhiều khi chúng ta tỏ ra “cứng đầu cứng cổ”, hư hỏng, mất nết. Điểm nhấn mạnh là lòng thương xót của Thiên Chúa và các dụ ngôn đều là câu chuyện của ơn thánh. Cánh cửa mở vào ơn Chúa là chữ “nhưng”, tuy nhiên hậu quả tất yếu của nó nằm trong chữ “vì thế”. Nhân loại tội lỗi nhưng lòng thương xót của Thiên chúa thật bao la trời bể. Cho nên Ngài tha thứ, vì thế cả thiên đàng đều vui mừng.
Chúng ta thử áp dụng quy luật của lòng Thiên Chúa thứ tha này vào bài đọc 2 hôm nay trích thư thứ 1 thánh Phaolô gửi cho Timothê. Ở đây không phải là một dân tộc nhưng là một cá nhân. Chính bản thân thánh Phaolô, ông cảm nghiệm sâu sắc chuyện này. Cuộc trở lại của ông là một phép lạ do lòng tha thứ, Thiên Chúa thực hiện nơi ông. Chính thánh nhân kể lại, không qua trung gian người thứ hai. Trước kia ông là người tội lỗi, nói lộng ngôn, bắt đạo… Chúng ta có thể dùng từ “bởi vì” cho giai đoạn này: Bởi vì tôi là kẻ tội lỗi, đã bách hại đạo Chúa, bắt bớ và giết chết các tín hữu. Ông chẳng thể được Thiên Chúa thi ân do công trạng riêng của mình. Thánh nhân nhanh chóng đổi giọng văn: “Nhưng tôi đã được Người thương xót vì tôi hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin”. Đây là thời điểm của ơn tha thứ, ơn trở lại của Phaolô. “Vì thế” Thiên Chúa đã bước vào đời ông, ban cho ông sự tha thứ cần thiết để ông làm môn đệ Ngài. Tiếng “vì thế” diễn tả hậu quả của lòng Chúa thương xót. Lúc này ông hoàn toàn đổi khác, mặc ấy Chúa Kitô và trở nên con người mới. Một sự đổi đời gây ngạc nhiên tột độ không ai tưởng tượng nổi. Thánh Luca thuật: Ông phải nhờ Barnaba làm trung gian để gặp các Tông đồ ở Giêrusalem vì không ai có thể tin được sự trở lại đó (Cv9,26). Người trước kia là kẻ bắt bớ các tín hữu, nay trở nên dấu chỉ của lòng Chúa xót thương! Chính thánh nhân viết: “Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu nhưng người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi”. Chúng ta biết rõ sứ vụ rao giảng của Phaolô sau khi trở lại rất thành công. Thánh nhân có thể kiêu hãnh về kết quả đó, như bao nhà truyền giáo thời nay. Họ làm thống kê dài ngoằng và tạ ơn Thiên Chúa. Nhưng không, trong bài đọc hôm nay, thánh nhân thú nhận kết quả đó hoàn toàn do Thiên Chúa hoạt động qua ông: “Đức Giêsu muốn bày tỏ tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai tin vào Người để được sống muôn đời”. Thánh nhân kết thúc bằng một lời ngợi khen Thiên Chúa. Thánh lễ hôm nay chúng ta có thể dùng lời đó cho chính thân phận mình. Không phải là ngẫu nhiên mà Chúa ban Bí tích Rửa tội cho mỗi người. Chính là do lòng thương xót của Ngài, cũng giống như trường hơp của Phaolô. Cho nên mỗi người phải hết lòng dâng lên Ngài lời biết ơn tán tạ: “Kính dâng lên vua muôn thưở là Thiên Chúa bất diệt, vô hình và duy nhất, kính dâng người danh dự và vinh quang đến muôn thưở muôn đời. Amen”.
Đến đây chúng ta có thể chuyển sang bài Tin mừng. Câu mở đầu khai mào cho ba dụ ngôn tiếp theo. Mấy ông kí lục và Pharisêô chỉ trích Chúa Giêsu về thái độ thân hữu của Ngài: “Ông này đón tiếp các kẻ tội lỗi và ăn uống đồng bàn với chúng”. Chúa Giêsu trả lời bằng ba dụ ngôn. Cả ba đều mang ý nghĩa chung: Mất mát và tìm thấy. Nhiều tác giả đặt cho phần này của phúc âm Luca tiêu đề: “Dụ ngôn về lòng xót thương của Thiên Chúa”. Mỗi dụ ngôn đều khởi đầu bằng sự kiện mất mát: Con chiên lạc, đồng bạc mất và đứa con đi hoang. Phân đoạn này hiểu ngầm từ “Bởi vì”. Bởi vì nhân loại đã đi hoang, đã lạc mất, đã trầm luân mà không tự mình trở lại với đường ngay lối phải, cho nên Thiên Chúa đã ra tay cứu vớt. Cả ba dụ ngôn đều không nhấn mạnh về khía cạnh luân lý cho bằng sự “mất tìm” và giá trị mất mát đều đáng giá đối với chủ nhân. Đây là điểm cần quan tâm trong ba dụ ngôn. Loài người chẳng là gì trước mặt Thượng đế, Đấng thượng trí và giàu sang vô cùng. Nhưng chỉ vì lòng thương xót của Ngài mà chúng ta trở nên đáng giá, được Ngài tìm kiếm và nóng lòng chờ đợi chúng ta trở về. Tư tưởng này khiến nhiều linh hồn lành thánh phải rơi nước mắt cảm động. Chai đá lắm thì cũng phải mềm lòng. Còn chúng ta? Mỗi người tự trả lời câu hỏi!
Chủ ý của Chúa Giêsu khi kể các dụ ngôn có lẽ không nhắm vào nội dung mất mát cho bằng não trạng hẹp hòi của các kí lục, biệt phái, kinh sư và chúng ta hôm nay. Họ nghĩ rằng mình đáng được tha thứ vì những “công nghiệp” mình làm và không thể tưởng tượng lòng thương xót của Đức Chúa Trời có thể vượt qua ranh giới họ cho phép, tức phải loại trừ những phạm trù bất khả. Ôi loài người lòng chai dạ đá, cứng cổ hơn dân Israel thời Môsê. Họ nên được hình ảnh người con cả đại diện. Nhưng sự thật Thiên Chúa đã thấu hiểu tình trạng vô vọng của đứa con thứ. Ngài bước vào, lật ngược tâm hồn anh ta và giơ tay cứu vớt … Kết quả của tiến trình này là một tương lai tươi sáng, đầy hứa hẹn, mở ra cho anh: “Mau mau giết bê béo để ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay lại sống, đã mất, nay lại tìm thấy”- hiện thực của từ vì thế (so ).
Áp dụng vào đời sống thiêng liêng của mỗi linh hồn, ba từ này diễn tả một tiến trình hết sức thực tiễn và cảm động. Bất cứ ai sống ở thế gian này đều có những giây phút bế tắc vì tội lỗi, tính mê, nết xấu. Tự thân tìm kiếm, chẳng thể nào thấy được lối ra. Càng cố gắng càng lún sâu vào bùn đen nước độc. Đó là những giây phút “bởi vì” của các bài đọc hôm nay. Bởi vì chúng ta không có khả năng tự giải thoát, xiềng xích của hoả ngục quá nặng nề. Chúng ta phải kêu lên như thánh Phaolô: “Khốn nạn thân tôi, ai sẽ cứu tôi khỏi gánh nặng nề này?” Điều chi sẽ xảy ra để thay đổi tình trạng hiện thời? Đến đây là giây phút của “Nhưng”. Nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa can thiệp vào và đổi ngược mọi sự: Từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ tối tăm đến anh sáng, từ ngục tù đến tự do, từ đường cùng đến lối thoát. “Vì vậy” cuộc sống mới bắt đầu, đầy tương lai và hạnh phúc. Hẳn chúng ta hiểu ra tại sao trong giai đoạn này thánh Phaolô lại dùng cụm từ “mặc lấy Đức Kitô”, để mô ta đời sống mới của người tín hữu. Đời sống vĩnh cửu, hoàn toàn tươi sáng, tự do. Tạ ơn Chúa.
Cho nên, hôm nay trước bàn thờ Thánh Thể, Chúa cho chúng ta cơ hội tốt để nhớ lại quá khứ của mình: Đã mất nay lại tìm thấy, đã chết nay lại sống. Giống như những nhân vật trong các dụ ngôn, chúng ta cử hành niềm vui mừng tìm thấy linh hồn mình, bị trầm luân nhưng được Chúa cứu sống, bị kết án nhưng được Chúa phóng thích. Tuy nhiên, việc này hoàn toàn không do năng lực riêng mỗi người. Đấng là Lòng Thương Xót đã tìm kiếm và cứu chữa chúng ta. Ơn này chẳng bao giờ ngợi khen cho đủ. Xin hãy cúi đầu phủ phục trước tôn nhan và quyết tâm phụng sự Ngài hiện diện trong tha nhân. Amen.
Lc 15, 1-32
Thưa quí vị,
Trong Hội thánh có những người được Chúa cho trí nhớ rất tốt. Họ đọc thuộc lòng nhiều đoạn Thánh Kinh quan trọng hoặc có thể trích từng câu trong văn cảnh của nó. Ví dụ Thư 1Corintô đoạn …. câu… điều này rất lợi ích trong nhiều hoàn cảnh của cuộc đời. Họ có thể trích dẫn Lời Chúa khi ngắm trăng sao, tinh tú; lúc đầy lòng tạ ơn hay tranh luận tôn giáo. Bất cứ thời điểm nào vui, giận, mừng, lo, họ cũng có thể dùng Lời Chúa để hỗ trợ cho lòng mình. Thực tình, tôi ghen tị với những người ấy. Phần mình, trí nhớ tôi rất tồi. Cố gắng lắm thì cũng chỉ đọc được vài ba câu thơ, nhớ được tên vài cuốn sách. Vậy thì những người giống như tôi, chúng ta phải làm sao để cho được bằng người?
Tương kế, tựu kế; khoẻ dùng sức, yếu dùng mưu. Xin mách quí vị một phương pháp nhỏ để vượt lên sự kém cỏi của mình. Đó là chúng ta phải làm cuộc đi tắt. Thí dụ bài Tin Mừng hôm nay. Nó dài tới hơn 30 câu, làm sao mà nhớ? Vậy thì chỉ tóm gọn vào 3 từ: “Bởi, Nhưng, Vậy” (since, but, so). Mỗi từ có vài chữ tương đương. Nhưng thôi cứ tập trung vào 3 từ ấy cho dễ xử lý. Chúng ta lấy bài Tin Mừng hôm nay làm ví dụ: Từ “bởi vì”: “Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ. Bởi vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”. “Xin chung vui với tôi, bởi vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó”. “Xin chung vui với tôi, bởi vì tôi đã tìm lại đồng quan đã đánh mất”. Từ này nói lên hoàn cảnh mà nhân loại đang ngụp lặn vào, hoặc những cay đắng khốn khổ mà chúng ta nhận ra tình trạng của mình. Chẳng riêng gì bài Phúc âm, bài đọc 1 trích sách Xuất Hành cũng vậy. Thiên Chúa gởi Môsê từ trên núi xuống, bởi vì dân Israel đã trở nên tồi tệ: “Hãy đi xuống, vì dân ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã mang lên từ đất Ai Cập, chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta truyền cho chúng đi”. Thực tế, dân Do Thái đã trở nên “cứng cổ” và xem ra Thiên Chúa đã từ bỏ họ, mặc cho họ đi theo đường lối lầm lạc của mình. Ngài nổi giận, vì dân Do Thái bao phen đã làm Ngài cực lòng.
Tuy nhiên xin đừng vội tự hào, thế giới ngày nay còn tệ hại hơn nhiều. Các dấu chỉ thờ bò vàng nhan nhản khắp hang cùng ngõ hẻm. Đâu đâu cũng thấy dân chúng lập thần tượng “để thờ”: tiền tài, danh vọng, sắc dục, chức quyền, xì ke, ma tuý, bạo lực, trác táng. Dân chúng thế giới ngày nay “cứng cổ” hơn Israel thưở xưa. Bao nhiêu cố gắng hoà đàm, hoà giải đều luống công. Các phương tiện truyền thông hằng ngày về bạo lực, giết chóc, đàn áp dã man, chứng tỏ loài người chẳng thay đổi gì nhiều từ thời Thiên Chúa gọi Israel là “cứng cổ”. Hai năm vừa qua, chiến tranh ở Iraq đã giết chết 900 lính Mỹ, 15.000 thường dân Iraq, bất chấp lời phê phán nhiều lần của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II. Ngài gọi đó là cuộc chiến không cần thiết và bất công (unjust and unnecessary war). Ngoài ra còn nhiều triệu vụ phá thai, giết chết êm dịu,… nghèo đói bẩn thỉu. Cho nên chúng ta có thể diễn tả phần này bằng từ “bởi vì”. Bởi vì những hoàn cảnh khốn đốn của nhân loại do tội lỗi, tính hư nết xấu, gây nên. Chúng tồn tại ngoài ý muốn của Thượng đế. Nó là sự “cứng cổ” của con cháu Adam, Eva. Bởi vì tình trạng của loài người là như vậy. Cho nên lòng thương xót của Thiên Chúa phải chiếu cố để cứu vớt họ. Họ chẳng tự thân thoát ra khỏi số phận nô lệ. Cho nên Đức Chúa Trời phải hành động để họ được giải phóng.
Đến đây thì chữ thứ hai “Nhưng” là cần thiết: Nhưng Môsê đã đứng ra cầu khẩn cho dân (bài đọc 1). Nhưng tôi đã được Người xót thương (bài đọc 2). Nhưng người cha nói với anh ta (phúc âm). Môsê đã lên tiếng thay cho dân tộc tội lỗi. Ông xin Thiên Chúa nhớ lại họ vẫn là dân riêng của Ngài, mặc dù cách đó ít lâu Ngài đã từ chối họ, gọi họ là dân của Môsê chứ không là dân của Thiên Chúa nữa: “Hãy xuống mau vì dân ngươi đã hư hỏng rồi”. Môsê đã thưa lớn: “Nhưng lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai Cập?” Họ là dân của Ngài, dòng dõi các tôi trung Abraham, Isaac, Giacob. Tính chất trung gian của Môsê rất mạnh mẽ, dân Do Thái có thể cậy dựa vào mà được lại lòng Thiên Chúa xót thương. Ông đã xin Ngài nhớ lại những mối dây giàng buộc (khế ước) mà Ngài đã nhiều lần ký kết với họ. Dân này, dù tội lỗi, nhưng vẫn là đối tượng được hưởng lời Ngài đã hứa. Tuy tự thân họ không đáng được lòng Ngài xót thương. “Nhưng” vì long trung tín của Ngài, Ngài không thể quên họ, vẫn ban ơn giải cứu khi họ lâm cảnh khốn cùng. Bằng bất cứ giá nào, họ phải được Ngài ra tay uy quyền cứu giúp. Đó là lý luận của chữ thứ hai.
Chữ thứ ba của các bài đọc hôm nay là: “Vì vậy”, vì vậy Thiên Chúa hối hận không giáng phạt dân Ngài như đã đe doạ. “Vì vậy tôi bảo cho các ông hay, trên trời cũng sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối”. Giọng văn sau “vì vậy” mô tả đầy đủ tình cảm nhân loại được gán cho Đức Chúa Trời. Đây là phần đẹp nhất của câu chuyện, gây nhiều xúc động cho người đọc: Hẳn quí vị đã hiểu ra khía cạnh này, phải không? Vì chẳng ai có thể bỏ qua giây phút vui mừng của tâm hồn được tha thứ. Thiên Chúa quả là người tình vĩ đại của loài người. Ngài chẳng thể bỏ mặc chúng ta quằn quại trong kiếp sống ngục tù tội lỗi, mặc dầu nhiều khi chúng ta tỏ ra “cứng đầu cứng cổ”, hư hỏng, mất nết. Điểm nhấn mạnh là lòng thương xót của Thiên Chúa và các dụ ngôn đều là câu chuyện của ơn thánh. Cánh cửa mở vào ơn Chúa là chữ “nhưng”, tuy nhiên hậu quả tất yếu của nó nằm trong chữ “vì thế”. Nhân loại tội lỗi nhưng lòng thương xót của Thiên chúa thật bao la trời bể. Cho nên Ngài tha thứ, vì thế cả thiên đàng đều vui mừng.
Chúng ta thử áp dụng quy luật của lòng Thiên Chúa thứ tha này vào bài đọc 2 hôm nay trích thư thứ 1 thánh Phaolô gửi cho Timothê. Ở đây không phải là một dân tộc nhưng là một cá nhân. Chính bản thân thánh Phaolô, ông cảm nghiệm sâu sắc chuyện này. Cuộc trở lại của ông là một phép lạ do lòng tha thứ, Thiên Chúa thực hiện nơi ông. Chính thánh nhân kể lại, không qua trung gian người thứ hai. Trước kia ông là người tội lỗi, nói lộng ngôn, bắt đạo… Chúng ta có thể dùng từ “bởi vì” cho giai đoạn này: Bởi vì tôi là kẻ tội lỗi, đã bách hại đạo Chúa, bắt bớ và giết chết các tín hữu. Ông chẳng thể được Thiên Chúa thi ân do công trạng riêng của mình. Thánh nhân nhanh chóng đổi giọng văn: “Nhưng tôi đã được Người thương xót vì tôi hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin”. Đây là thời điểm của ơn tha thứ, ơn trở lại của Phaolô. “Vì thế” Thiên Chúa đã bước vào đời ông, ban cho ông sự tha thứ cần thiết để ông làm môn đệ Ngài. Tiếng “vì thế” diễn tả hậu quả của lòng Chúa thương xót. Lúc này ông hoàn toàn đổi khác, mặc ấy Chúa Kitô và trở nên con người mới. Một sự đổi đời gây ngạc nhiên tột độ không ai tưởng tượng nổi. Thánh Luca thuật: Ông phải nhờ Barnaba làm trung gian để gặp các Tông đồ ở Giêrusalem vì không ai có thể tin được sự trở lại đó (Cv9,26). Người trước kia là kẻ bắt bớ các tín hữu, nay trở nên dấu chỉ của lòng Chúa xót thương! Chính thánh nhân viết: “Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu nhưng người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi”. Chúng ta biết rõ sứ vụ rao giảng của Phaolô sau khi trở lại rất thành công. Thánh nhân có thể kiêu hãnh về kết quả đó, như bao nhà truyền giáo thời nay. Họ làm thống kê dài ngoằng và tạ ơn Thiên Chúa. Nhưng không, trong bài đọc hôm nay, thánh nhân thú nhận kết quả đó hoàn toàn do Thiên Chúa hoạt động qua ông: “Đức Giêsu muốn bày tỏ tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai tin vào Người để được sống muôn đời”. Thánh nhân kết thúc bằng một lời ngợi khen Thiên Chúa. Thánh lễ hôm nay chúng ta có thể dùng lời đó cho chính thân phận mình. Không phải là ngẫu nhiên mà Chúa ban Bí tích Rửa tội cho mỗi người. Chính là do lòng thương xót của Ngài, cũng giống như trường hơp của Phaolô. Cho nên mỗi người phải hết lòng dâng lên Ngài lời biết ơn tán tạ: “Kính dâng lên vua muôn thưở là Thiên Chúa bất diệt, vô hình và duy nhất, kính dâng người danh dự và vinh quang đến muôn thưở muôn đời. Amen”.
Đến đây chúng ta có thể chuyển sang bài Tin mừng. Câu mở đầu khai mào cho ba dụ ngôn tiếp theo. Mấy ông kí lục và Pharisêô chỉ trích Chúa Giêsu về thái độ thân hữu của Ngài: “Ông này đón tiếp các kẻ tội lỗi và ăn uống đồng bàn với chúng”. Chúa Giêsu trả lời bằng ba dụ ngôn. Cả ba đều mang ý nghĩa chung: Mất mát và tìm thấy. Nhiều tác giả đặt cho phần này của phúc âm Luca tiêu đề: “Dụ ngôn về lòng xót thương của Thiên Chúa”. Mỗi dụ ngôn đều khởi đầu bằng sự kiện mất mát: Con chiên lạc, đồng bạc mất và đứa con đi hoang. Phân đoạn này hiểu ngầm từ “Bởi vì”. Bởi vì nhân loại đã đi hoang, đã lạc mất, đã trầm luân mà không tự mình trở lại với đường ngay lối phải, cho nên Thiên Chúa đã ra tay cứu vớt. Cả ba dụ ngôn đều không nhấn mạnh về khía cạnh luân lý cho bằng sự “mất tìm” và giá trị mất mát đều đáng giá đối với chủ nhân. Đây là điểm cần quan tâm trong ba dụ ngôn. Loài người chẳng là gì trước mặt Thượng đế, Đấng thượng trí và giàu sang vô cùng. Nhưng chỉ vì lòng thương xót của Ngài mà chúng ta trở nên đáng giá, được Ngài tìm kiếm và nóng lòng chờ đợi chúng ta trở về. Tư tưởng này khiến nhiều linh hồn lành thánh phải rơi nước mắt cảm động. Chai đá lắm thì cũng phải mềm lòng. Còn chúng ta? Mỗi người tự trả lời câu hỏi!
Chủ ý của Chúa Giêsu khi kể các dụ ngôn có lẽ không nhắm vào nội dung mất mát cho bằng não trạng hẹp hòi của các kí lục, biệt phái, kinh sư và chúng ta hôm nay. Họ nghĩ rằng mình đáng được tha thứ vì những “công nghiệp” mình làm và không thể tưởng tượng lòng thương xót của Đức Chúa Trời có thể vượt qua ranh giới họ cho phép, tức phải loại trừ những phạm trù bất khả. Ôi loài người lòng chai dạ đá, cứng cổ hơn dân Israel thời Môsê. Họ nên được hình ảnh người con cả đại diện. Nhưng sự thật Thiên Chúa đã thấu hiểu tình trạng vô vọng của đứa con thứ. Ngài bước vào, lật ngược tâm hồn anh ta và giơ tay cứu vớt … Kết quả của tiến trình này là một tương lai tươi sáng, đầy hứa hẹn, mở ra cho anh: “Mau mau giết bê béo để ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay lại sống, đã mất, nay lại tìm thấy”- hiện thực của từ vì thế (so ).
Áp dụng vào đời sống thiêng liêng của mỗi linh hồn, ba từ này diễn tả một tiến trình hết sức thực tiễn và cảm động. Bất cứ ai sống ở thế gian này đều có những giây phút bế tắc vì tội lỗi, tính mê, nết xấu. Tự thân tìm kiếm, chẳng thể nào thấy được lối ra. Càng cố gắng càng lún sâu vào bùn đen nước độc. Đó là những giây phút “bởi vì” của các bài đọc hôm nay. Bởi vì chúng ta không có khả năng tự giải thoát, xiềng xích của hoả ngục quá nặng nề. Chúng ta phải kêu lên như thánh Phaolô: “Khốn nạn thân tôi, ai sẽ cứu tôi khỏi gánh nặng nề này?” Điều chi sẽ xảy ra để thay đổi tình trạng hiện thời? Đến đây là giây phút của “Nhưng”. Nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa can thiệp vào và đổi ngược mọi sự: Từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ tối tăm đến anh sáng, từ ngục tù đến tự do, từ đường cùng đến lối thoát. “Vì vậy” cuộc sống mới bắt đầu, đầy tương lai và hạnh phúc. Hẳn chúng ta hiểu ra tại sao trong giai đoạn này thánh Phaolô lại dùng cụm từ “mặc lấy Đức Kitô”, để mô ta đời sống mới của người tín hữu. Đời sống vĩnh cửu, hoàn toàn tươi sáng, tự do. Tạ ơn Chúa.
Cho nên, hôm nay trước bàn thờ Thánh Thể, Chúa cho chúng ta cơ hội tốt để nhớ lại quá khứ của mình: Đã mất nay lại tìm thấy, đã chết nay lại sống. Giống như những nhân vật trong các dụ ngôn, chúng ta cử hành niềm vui mừng tìm thấy linh hồn mình, bị trầm luân nhưng được Chúa cứu sống, bị kết án nhưng được Chúa phóng thích. Tuy nhiên, việc này hoàn toàn không do năng lực riêng mỗi người. Đấng là Lòng Thương Xót đã tìm kiếm và cứu chữa chúng ta. Ơn này chẳng bao giờ ngợi khen cho đủ. Xin hãy cúi đầu phủ phục trước tôn nhan và quyết tâm phụng sự Ngài hiện diện trong tha nhân. Amen.