CHÚA NHẬT 12 THƯỜNG NIÊN. C
Lc 9,18-24
Thưa quý vị.
Có đúng là chúng ta vừa trải qua Mùa Chay được vài tháng không? Vậy tại sao các bài đọc hôm nay vẫn còn giọng điệu của mùa đó? Vẫn còn: “Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta, chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu” (bài đọc 1), những đoạn Kinh Thánh như thế này từ sách Cựu ước đã được sử dụng rất nhiều trong mùa Chay và người tín hữu áp dụng nó vào cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Nhưng hôm nay đâu phải là mùa thương khó? Hơn nữa bài Tin Mừng cũng nói: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Chẳng lẽ chúng ta lại trở về với không khí mùa Chay giữa tháng sáu? Tháng đầy hương thơm và nhộn nhịp đám cưới? Tháng sáu người ta chuẩn bị đi nghỉ hè bờ biển, ăn thịt nướng, cắm trại ngoài trời, dã ngoại sinh thái hay du lịch nước ngoài. Mấy ai nghĩ đến mùa Chay? Nếu có, thì phải ở Nam bán cầu như Châu Úc, New Zealand, ở những nơi đó thời tiết khởi sự vào mùa đông! Vậy các bài đọc tuần này có mục đích gì?
Nếu để tâm suy nghĩ thì câu trả lời nằm ở bài Phúc Âm, Chúa Giêsu đặt cho các tông đồ một câu hỏi lớn, bao trùm toàn thể Tân ước: “Còn chúng con, chúng con bảo Thầy là ai?” Ngày nay Ngài cũng hỏi mỗi linh hồn và Giáo Hội như thế. Tuỳ vào câu trả lời mà chúng ta thật sự là người tôn thờ Ngài hay chỉ là ngoài môi miệng. Trước đó, Ngài cũng đặt câu hỏi cho toàn thể dân chúng: “Người ta bảo Thầy là ai?” Sau khi nghe các môn đệ thuật lại ý kiến đám đông, Ngài nói với các ông: “Nhưng anh em, anh em bảo thầy là ai?” Ngài không cần thâu nhận ý kiến thiên hạ nhưng là ý kiến của các kẻ theo Ngài. Ý kiến thiên hạ thì thật vô vàn và khác nhau. Phúc Âm kể: “Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ khác thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ ngày xưa đã sống lại”. Ngài cũng chẳng cần ý kiến của các thần học gia, triết lý gia, khoa học gia, sử gia sau này nói về Ngài. Ngay cả công ty Google lên mạng Ngài ra sao cũng không cần biết. Điều Ngài tìm kiếm là: “Nhưng các con bảo Thầy là ai?” Hội Thánh bảo Thầy là ai, mỗi linh hồn theo Chúa nghĩ về căn cước của Ngài như thế nào?
Tông đồ Phêrô đứng ra trả lời thay cho các bạn: “Thầy là Đức Kitô của Thiên Chúa” (nói cách khác Thầy là Đấng Thiên Sai, Đấng được xức dầu). Thánh Matthêu bổ túc: “Con Thiên Chúa hằng sống” (16,16). Phêrô nói lên hy vọng ngàn đời của dân tộc Israel, câu thêm của Matthêu đúng hơn: hy vọng của nhân loại. Phêrô nói lên ước mong Thiên Chúa sẽ dựng dậy một người dòng dõi Đavít với quyền năng mạnh mẽ đủ để khôi phục triều đại và đất nước hùng mạnh xa xưa của dân tộc Do Thái. Phêrô đã theo ơn soi sáng nói lên sự thật và ông hy vọng sự thật đó sẽ cứu vớt dân mình. Tuy nhiên Chúa Giêsu không phải chỉ là “một tiên tri danh tiếng khác” như Êlia, Gioan Tẩy Giả nhưng đích thực là Đấng được xức dầu, một nhân vật đặc biệt đến từ Thiên Chúa để thực hiện cuộc giải phóng nhân loại, mọi người trông đợi.
Chúng ta đã quen thuộc với đoạn văn này và có thể đọc lại thuộc lòng lời tuyên bố của Phêrô. Nó vang dội trên trái đất hàng ngàn năm. Nhưng có hai điểm cần làm sáng tỏ: Câu trả lời của Phêrô đúng thật là căn cước của Chúa Giêsu, nhưng có lẽ không đúng với quan niệm của ông về Đấng Thiên Sai. Điểm thứ hai, từ thời Phêrô đến nay, câu trả lời của ông chỉ được hiểu chung chung, chưa đáp ứng mong đợi của Chúa Giêsu: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Tức là mỗi cá nhân các tông đồ, mỗi Hội Thánh địa phương và mỗi tín hữu trả lời về Ngài thế nào? Câu trả lời xác định đức tin của đương sự hay tập đoàn vào Chúa, đồng thời nói lên lối sống của mình, của cộng đồng mình. Đối xử với tha nhân ra sao? Mối tương giao với Thiên Chúa thế nào? Cầu nguyện và tham dự phụng vụ ở mức độ nào? Các vị linh hướng cũng hay dùng câu hỏi này để mở đầu những buổi tĩnh tâm, những lớp giáo lý, bao đồng, hôn nhân và sửa soạn lãnh nhận các bí tích. Câu trả lời đúng sẽ thay đổi não trạng từng người, ngoài ra chỉ là hời hợt không như Chúa Giêsu mong đợi.
Nhìn lại lịch sử Hội Thánh, không kể xiết những linh hồn tổ tiên chúng ta trong đức tin đã trả lời chính xác Chúa Giêsu. Hơn hai ngàn năm qua, trong mỗi thế hệ tín hữu, có biết baò vị thánh. Họ đã sống anh hùng và đáp trả quảng đại lời mời gọi của Thiên Chúa, làm gương cho chúng ta. Nói cho rõ, chúng ta thừa hưởng truyền thống lâu đời của Giáo Hội, cùng sát cánh với các bậc khổng lồ trong đức tin. Chúng ta được các ngài yêu thương, săn sóc, cầu thay nguyện giúp. Chúng ta được gương sáng của các ngài khích lệ. Ngay cả phần thưởng công nghiệp của các ngài dẫn dắt. Nhưng chúng ta không sống trong thời đại của các ngài, mà sống ở thế kỷ 21 với những đặc tính của nền văn minh ngày nay. Cho nên câu hỏi của Chúa Giêsu lại được đặt ra cho mỗi người: “Nhưng các con bảo Thầy là ai?” Nếu với niềm xác tín mới, chúng ta trả lời như Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống”, thì phải lắng nghe và tuân giữ lời Ngài, như những chân lý vĩnh cửu và có sức biến đổi đời mình, chứ không chỉ là “viển vông, không tưởng”. Còn nếu chúng ta xem Ngài như một tiên tri, một thầy dạy thì vấn đề lại là khác. Chúng ta có thể tự do “phán xét” về mặc khải của Ngài và vẫn giữ nguyên nếp sống của mình, chẳng cần thay đổi. Bởi Ngài chỉ là thầy dạy có thể đúng và cũng có thể sai. Nghĩa là còn thiếu sót, chưa là chân lý ngàn đời, đáng học hỏi và tôn thờ.
Việc Chúa Giêsu sửa lại quan niệm của Phêrô về đấng Thiên Sai (tức tiên báo về sự khổ nạn của Ngài) chứng tỏ Ngài mong đợi nơi các kẻ theo Ngài một nội dung vượt xa lời nói. Họ phải theo Ngài bằng cuộc sống chứ không phải chỉ ý hướng mà thôi. Sống theo hướng dẫn của đức tin là câu trả lời thích hợp nhất. Ngày hôm nay, lúc này, trong hoàn cảnh này, tại nơi đây “Anh em bảo Thầy là ai?” Nếu là Thiên Chúa, thì phải sống đúng với điều mình tuyên xưng, và trả cho Ngài tất cả những gì thuộc về Ngài. Bằng không thì câu trả lời trống rỗng, dù biện minh bằng bất cứ lý do nào. Chính Chúa Giêsu đã chỉ rõ vai trò của Đấng Thiên Sai khi loan báo cuộc khổ nạn của mình. Ngài không cai trị thế gian bằng vũ lực và cũng không quật ngã quân thù bằng binh hùng tướng mạnh. Nhưng thực hiện thân phận người tôi tớ đau khổ mà tiên tri Isaia báo trước. Đời sống khiêm nhu, thánh thiện của Ngài sẽ giúp đỡ muôn người lướt thắng tính mê, nết xấu; tẩy rửa tội lỗi trần gian. Ngài chấp nhận cái chết để giải phóng chúng ta khỏi ách Satan. Đó là chân dung đấng Cứu Thế mà Chúa Giêsu mạc khải. Ngày nay chúng ta tuyên xưng đức tin vào Ngài giống như Phêrô: “Bỏ Thầy chúng con biết theo ai, Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.” Chúng ta cũng phải sống như Ngài đã sống, gánh lấy thân phận tôi tớ Giavê như Ngài dạy: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo.” Cho nên chúng ta không thể đồng thời tìm kiếm sung sướng, danh vọng, tiền tài mà lại khoe mình là môn đệ Chúa Giêsu. Người theo Chúa đích thực là người yêu mến từ bo, thực hành khổ chế, phục vụ tha nhân và thi thố bác ái: Bởi lẽ tôi tớ không trọng hơn Thầy. Số phận “thiên sai” của Chúa Giêsu là cây thập tự, đinh sắt, lưỡi đòng, bị loại trừ như tên vô lại. Thì môn đệ Ngài không thể hơn được.
Chúng ta phải sống cái dấu chỉ chống đối của cây thập tự (the contradiction of the cross) để được sống muôn đời: “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Kiểu mẫu sống này chẳng dễ gì giữa xã hội văn minh ngày nay: Tiện nghi đầy đủ, sản xuất thừa mứa. Nhưng xin nhớ thời Chúa Giêsu không thiếu xa hoa. Lịch sử các vua chúa, quan quyền La Mã và khắp miền lân cận đầy dẫy chuyện ăn chơi trác táng (xin xem phim Jesus the super Star). Nếp sống của vợ chồng Hêrôđê khét tiếng. Ngày nay các tỉ phú thế giới chưa chắc đã theo kịp. Do đó thánh giá của chúng ta không phải là những đau đớn bắt buộc mà là những từ bỏ vì lòng yêu mến Chúa, những hy sinh tự nguyện: “Ai muốn theo Tôi, phải khổ chế chính mình…” Ăn ở buông thả, dung dưỡng xác thịt thì không phải tinh thần Đức Kitô. Tai hại thay nhiều linh hồn tiếp tục bị Satan lừa dối, bắt cá hai tay, vậy mà vẫn ương ngạnh nhận mình là môn đệ Chúa.
Trình thuật về biến cố nơi Phúc Âm thánh Luca khác với Marcô và Matthêu. Hai thánh sử này không nói đến yếu tố “hàng ngày”. Trái lại Luca nhấn mạnh các chữ đó. Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ phải vác thập giá mình hàng ngày, nghĩa là liên tục và không giây phút ngơi nghỉ. Vậy thì việc trả lời cho yêu cầu của Chúa Giêsu nơi Giáo Hội và mỗi linh hồn phải là “hàng ngày”, không chỉ giai đoạn, lúc có lúc không. Cho nên, mỗi ngày chúng ta phải xét lại nếp sống của mình. Chúng ta phải coi xem mình sống thế nào? Có thực sự am hợp với đường lối Chúa Kitô? Hay nhiều lúc buông lơi, đắm chìm trong rượu chè, trai gái, thích ăn ngon, quần áo đẹp, tiện nghi tân thời… ? Cứ như kiểu cách sống của chúng ta ngày nay thì thật khó để phân biệt đâu là nếp sống đích thực Kitô hữu, đâu chỉ mang danh hiệu mà thôi (It is hard to imagine how one can become a routine Christian or a Christian in name only). Nếu như mỗi ngày chúng ta nghe tiếng Chúa kêu gọi và đáp trả thuận lợi, mau mắn. Nếu như mỗi ngày chúng ta làm cuộc xét mình thì có thể phần nào trả lời thắc mắc. Một điều chắc chắn, thánh Luca không coi cơ hội chủ nghĩa là dấu chỉ làm môn đệ Chúa nhưng điểm nhấn mạnh của ông là dấn thân hàng ngày theo Ngài.
Tự mình, chúng ta chẳng thể bền vững sống đức tin chân chính: Từ bỏ mình và vác thập giá theo chân Chúa, bởi nó là công việc siêu nhiên, đòi hỏi nhiều can đảm và khổ hạnh. Loài người không làm được mà phải có ơn trợ giúp từ Thiên Chúa. Tuy nhiên theo tinh thần Phúc Âm hôm nay, nó là yêu sách của Chúa Giêsu và chúng ta phải làm quyết định, không những bằng lời nói nhưng bằng cuộc sống. Cho nên Chúa Thánh Thần đã được gởi đến trên các tông đồ, trên Giáo Hội và mỗi linh hồn. Hai tuần vừa qua, chúng ta đã mừng kính Ngài. Chính nhờ ơn Ngài mà chúng ta thực hiện được những ước mong của Chúa Giêsu. Thánh Thần hằng ở với Giáo Hội, ngự trị trong mỗi linh hồn công chính và nhiệt thành. Hằng ngày Ngài hướng dẫn và trợ giúp chúng ta thi hành các đòi hỏi của Chúa Giêsu. Khi chúng ta thức, ngủ, thờ phượng, tới văn phòng, trường học, sở làm, Ngài đều hiện diện để soi sáng và ban sức mạnh, ngõ hầu chúng ta sống xứng danh Kitô hữu.
Trong thánh lễ sáng nay, chúng ta lại được nghe Chúa Giêsu đặt câu hỏi: “Anh em bảo Thầy là ai?” Và qua Thánh Thể, chúng ta nghiệm ra bổn phận dấn thân của mình. Có lẽ chúng ta chưa đốt cháy thế giới bằng lửa nhiệt thành. Có lẽ chúng ta còn nguội lạnh giữ đạo theo hình thức và lễ nghi, đức tin chỉ là tờ giấy bao tường trang hoàng cho cuộc đời mình. Vậy chúng ta xin Chúa Thánh Thể, biến đổi tâm tính mình, xin Thần Khí Ngài thêm cho nghị lực và nhiệt tâm. Mặc dù giữa tháng sáu, sứ điệp của Tin Mừng hôm nay thấm đượm màu chay tịnh, đòi hỏi hy sinh và phục vụ, nhưng mùa nào đi nữa thì chúng ta vẫn là Kitô hữu toàn thời gian, say mê và can đảm.
Nhân cơ hội Chúa Giêsu kêu mời vác khổ giá theo Ngài mỗi ngày, chúng ta suy niệm về dấu thánh giá làm trên thân thể mình. Từ khi chịu phép rửa tội cho tới lúc nằm dưới mồ, thánh giá vẫn là biểu hiệu đức tin của mỗi tín hữu. Chúng ta yêu mến và làm dấu thánh giá mỗi ngày nhiều lần, xin Chúa ghi dấu ấn của Ngài trên ý nghĩ và hành động của mình. Dấu thánh giá không phải là phù phép hoặc đuổi ruồi muỗi, cho nên chúng ta phải thực hiện nghiêm chỉnh với đầy đủ đức tin. Ở Lộ Đức (nước Pháp), Đức Mẹ Vô Nhiễm đã dạy lại cách làm dấu thánh giá cho cô Bernadette Soubirous. Từ ấy cô được nhiều ơn ích. Hội Thánh có thói quen tốt lành vẽ dấu thánh giá trên các dự tòng từ rất sớm. Nhiều bằng chứng cho biết thói quen làm dấu thánh giá xuất hiện từ thế kỷ thứ hai. Đây là biểu hiệu khả thị nói lên tương giao con thảo của các tín hữu với Thượng Đế qua Đức Giêsu. Nó cũng là lời cầu nguyện sốt sắng cho tương giao đó ngày càng thắm thiết. Ước chi mỗi chúng ta ý thức hơn về hành động đạo đức này và ước chi dấu thánh giá mang lại bình an, hạnh phúc cho mỗi linh hồn suốt cuộc đời họ. Amen.
Lc 9,18-24
Thưa quý vị.
Có đúng là chúng ta vừa trải qua Mùa Chay được vài tháng không? Vậy tại sao các bài đọc hôm nay vẫn còn giọng điệu của mùa đó? Vẫn còn: “Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta, chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu” (bài đọc 1), những đoạn Kinh Thánh như thế này từ sách Cựu ước đã được sử dụng rất nhiều trong mùa Chay và người tín hữu áp dụng nó vào cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Nhưng hôm nay đâu phải là mùa thương khó? Hơn nữa bài Tin Mừng cũng nói: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Chẳng lẽ chúng ta lại trở về với không khí mùa Chay giữa tháng sáu? Tháng đầy hương thơm và nhộn nhịp đám cưới? Tháng sáu người ta chuẩn bị đi nghỉ hè bờ biển, ăn thịt nướng, cắm trại ngoài trời, dã ngoại sinh thái hay du lịch nước ngoài. Mấy ai nghĩ đến mùa Chay? Nếu có, thì phải ở Nam bán cầu như Châu Úc, New Zealand, ở những nơi đó thời tiết khởi sự vào mùa đông! Vậy các bài đọc tuần này có mục đích gì?
Nếu để tâm suy nghĩ thì câu trả lời nằm ở bài Phúc Âm, Chúa Giêsu đặt cho các tông đồ một câu hỏi lớn, bao trùm toàn thể Tân ước: “Còn chúng con, chúng con bảo Thầy là ai?” Ngày nay Ngài cũng hỏi mỗi linh hồn và Giáo Hội như thế. Tuỳ vào câu trả lời mà chúng ta thật sự là người tôn thờ Ngài hay chỉ là ngoài môi miệng. Trước đó, Ngài cũng đặt câu hỏi cho toàn thể dân chúng: “Người ta bảo Thầy là ai?” Sau khi nghe các môn đệ thuật lại ý kiến đám đông, Ngài nói với các ông: “Nhưng anh em, anh em bảo thầy là ai?” Ngài không cần thâu nhận ý kiến thiên hạ nhưng là ý kiến của các kẻ theo Ngài. Ý kiến thiên hạ thì thật vô vàn và khác nhau. Phúc Âm kể: “Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ khác thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ ngày xưa đã sống lại”. Ngài cũng chẳng cần ý kiến của các thần học gia, triết lý gia, khoa học gia, sử gia sau này nói về Ngài. Ngay cả công ty Google lên mạng Ngài ra sao cũng không cần biết. Điều Ngài tìm kiếm là: “Nhưng các con bảo Thầy là ai?” Hội Thánh bảo Thầy là ai, mỗi linh hồn theo Chúa nghĩ về căn cước của Ngài như thế nào?
Tông đồ Phêrô đứng ra trả lời thay cho các bạn: “Thầy là Đức Kitô của Thiên Chúa” (nói cách khác Thầy là Đấng Thiên Sai, Đấng được xức dầu). Thánh Matthêu bổ túc: “Con Thiên Chúa hằng sống” (16,16). Phêrô nói lên hy vọng ngàn đời của dân tộc Israel, câu thêm của Matthêu đúng hơn: hy vọng của nhân loại. Phêrô nói lên ước mong Thiên Chúa sẽ dựng dậy một người dòng dõi Đavít với quyền năng mạnh mẽ đủ để khôi phục triều đại và đất nước hùng mạnh xa xưa của dân tộc Do Thái. Phêrô đã theo ơn soi sáng nói lên sự thật và ông hy vọng sự thật đó sẽ cứu vớt dân mình. Tuy nhiên Chúa Giêsu không phải chỉ là “một tiên tri danh tiếng khác” như Êlia, Gioan Tẩy Giả nhưng đích thực là Đấng được xức dầu, một nhân vật đặc biệt đến từ Thiên Chúa để thực hiện cuộc giải phóng nhân loại, mọi người trông đợi.
Chúng ta đã quen thuộc với đoạn văn này và có thể đọc lại thuộc lòng lời tuyên bố của Phêrô. Nó vang dội trên trái đất hàng ngàn năm. Nhưng có hai điểm cần làm sáng tỏ: Câu trả lời của Phêrô đúng thật là căn cước của Chúa Giêsu, nhưng có lẽ không đúng với quan niệm của ông về Đấng Thiên Sai. Điểm thứ hai, từ thời Phêrô đến nay, câu trả lời của ông chỉ được hiểu chung chung, chưa đáp ứng mong đợi của Chúa Giêsu: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Tức là mỗi cá nhân các tông đồ, mỗi Hội Thánh địa phương và mỗi tín hữu trả lời về Ngài thế nào? Câu trả lời xác định đức tin của đương sự hay tập đoàn vào Chúa, đồng thời nói lên lối sống của mình, của cộng đồng mình. Đối xử với tha nhân ra sao? Mối tương giao với Thiên Chúa thế nào? Cầu nguyện và tham dự phụng vụ ở mức độ nào? Các vị linh hướng cũng hay dùng câu hỏi này để mở đầu những buổi tĩnh tâm, những lớp giáo lý, bao đồng, hôn nhân và sửa soạn lãnh nhận các bí tích. Câu trả lời đúng sẽ thay đổi não trạng từng người, ngoài ra chỉ là hời hợt không như Chúa Giêsu mong đợi.
Nhìn lại lịch sử Hội Thánh, không kể xiết những linh hồn tổ tiên chúng ta trong đức tin đã trả lời chính xác Chúa Giêsu. Hơn hai ngàn năm qua, trong mỗi thế hệ tín hữu, có biết baò vị thánh. Họ đã sống anh hùng và đáp trả quảng đại lời mời gọi của Thiên Chúa, làm gương cho chúng ta. Nói cho rõ, chúng ta thừa hưởng truyền thống lâu đời của Giáo Hội, cùng sát cánh với các bậc khổng lồ trong đức tin. Chúng ta được các ngài yêu thương, săn sóc, cầu thay nguyện giúp. Chúng ta được gương sáng của các ngài khích lệ. Ngay cả phần thưởng công nghiệp của các ngài dẫn dắt. Nhưng chúng ta không sống trong thời đại của các ngài, mà sống ở thế kỷ 21 với những đặc tính của nền văn minh ngày nay. Cho nên câu hỏi của Chúa Giêsu lại được đặt ra cho mỗi người: “Nhưng các con bảo Thầy là ai?” Nếu với niềm xác tín mới, chúng ta trả lời như Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống”, thì phải lắng nghe và tuân giữ lời Ngài, như những chân lý vĩnh cửu và có sức biến đổi đời mình, chứ không chỉ là “viển vông, không tưởng”. Còn nếu chúng ta xem Ngài như một tiên tri, một thầy dạy thì vấn đề lại là khác. Chúng ta có thể tự do “phán xét” về mặc khải của Ngài và vẫn giữ nguyên nếp sống của mình, chẳng cần thay đổi. Bởi Ngài chỉ là thầy dạy có thể đúng và cũng có thể sai. Nghĩa là còn thiếu sót, chưa là chân lý ngàn đời, đáng học hỏi và tôn thờ.
Việc Chúa Giêsu sửa lại quan niệm của Phêrô về đấng Thiên Sai (tức tiên báo về sự khổ nạn của Ngài) chứng tỏ Ngài mong đợi nơi các kẻ theo Ngài một nội dung vượt xa lời nói. Họ phải theo Ngài bằng cuộc sống chứ không phải chỉ ý hướng mà thôi. Sống theo hướng dẫn của đức tin là câu trả lời thích hợp nhất. Ngày hôm nay, lúc này, trong hoàn cảnh này, tại nơi đây “Anh em bảo Thầy là ai?” Nếu là Thiên Chúa, thì phải sống đúng với điều mình tuyên xưng, và trả cho Ngài tất cả những gì thuộc về Ngài. Bằng không thì câu trả lời trống rỗng, dù biện minh bằng bất cứ lý do nào. Chính Chúa Giêsu đã chỉ rõ vai trò của Đấng Thiên Sai khi loan báo cuộc khổ nạn của mình. Ngài không cai trị thế gian bằng vũ lực và cũng không quật ngã quân thù bằng binh hùng tướng mạnh. Nhưng thực hiện thân phận người tôi tớ đau khổ mà tiên tri Isaia báo trước. Đời sống khiêm nhu, thánh thiện của Ngài sẽ giúp đỡ muôn người lướt thắng tính mê, nết xấu; tẩy rửa tội lỗi trần gian. Ngài chấp nhận cái chết để giải phóng chúng ta khỏi ách Satan. Đó là chân dung đấng Cứu Thế mà Chúa Giêsu mạc khải. Ngày nay chúng ta tuyên xưng đức tin vào Ngài giống như Phêrô: “Bỏ Thầy chúng con biết theo ai, Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.” Chúng ta cũng phải sống như Ngài đã sống, gánh lấy thân phận tôi tớ Giavê như Ngài dạy: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo.” Cho nên chúng ta không thể đồng thời tìm kiếm sung sướng, danh vọng, tiền tài mà lại khoe mình là môn đệ Chúa Giêsu. Người theo Chúa đích thực là người yêu mến từ bo, thực hành khổ chế, phục vụ tha nhân và thi thố bác ái: Bởi lẽ tôi tớ không trọng hơn Thầy. Số phận “thiên sai” của Chúa Giêsu là cây thập tự, đinh sắt, lưỡi đòng, bị loại trừ như tên vô lại. Thì môn đệ Ngài không thể hơn được.
Chúng ta phải sống cái dấu chỉ chống đối của cây thập tự (the contradiction of the cross) để được sống muôn đời: “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Kiểu mẫu sống này chẳng dễ gì giữa xã hội văn minh ngày nay: Tiện nghi đầy đủ, sản xuất thừa mứa. Nhưng xin nhớ thời Chúa Giêsu không thiếu xa hoa. Lịch sử các vua chúa, quan quyền La Mã và khắp miền lân cận đầy dẫy chuyện ăn chơi trác táng (xin xem phim Jesus the super Star). Nếp sống của vợ chồng Hêrôđê khét tiếng. Ngày nay các tỉ phú thế giới chưa chắc đã theo kịp. Do đó thánh giá của chúng ta không phải là những đau đớn bắt buộc mà là những từ bỏ vì lòng yêu mến Chúa, những hy sinh tự nguyện: “Ai muốn theo Tôi, phải khổ chế chính mình…” Ăn ở buông thả, dung dưỡng xác thịt thì không phải tinh thần Đức Kitô. Tai hại thay nhiều linh hồn tiếp tục bị Satan lừa dối, bắt cá hai tay, vậy mà vẫn ương ngạnh nhận mình là môn đệ Chúa.
Trình thuật về biến cố nơi Phúc Âm thánh Luca khác với Marcô và Matthêu. Hai thánh sử này không nói đến yếu tố “hàng ngày”. Trái lại Luca nhấn mạnh các chữ đó. Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ phải vác thập giá mình hàng ngày, nghĩa là liên tục và không giây phút ngơi nghỉ. Vậy thì việc trả lời cho yêu cầu của Chúa Giêsu nơi Giáo Hội và mỗi linh hồn phải là “hàng ngày”, không chỉ giai đoạn, lúc có lúc không. Cho nên, mỗi ngày chúng ta phải xét lại nếp sống của mình. Chúng ta phải coi xem mình sống thế nào? Có thực sự am hợp với đường lối Chúa Kitô? Hay nhiều lúc buông lơi, đắm chìm trong rượu chè, trai gái, thích ăn ngon, quần áo đẹp, tiện nghi tân thời… ? Cứ như kiểu cách sống của chúng ta ngày nay thì thật khó để phân biệt đâu là nếp sống đích thực Kitô hữu, đâu chỉ mang danh hiệu mà thôi (It is hard to imagine how one can become a routine Christian or a Christian in name only). Nếu như mỗi ngày chúng ta nghe tiếng Chúa kêu gọi và đáp trả thuận lợi, mau mắn. Nếu như mỗi ngày chúng ta làm cuộc xét mình thì có thể phần nào trả lời thắc mắc. Một điều chắc chắn, thánh Luca không coi cơ hội chủ nghĩa là dấu chỉ làm môn đệ Chúa nhưng điểm nhấn mạnh của ông là dấn thân hàng ngày theo Ngài.
Tự mình, chúng ta chẳng thể bền vững sống đức tin chân chính: Từ bỏ mình và vác thập giá theo chân Chúa, bởi nó là công việc siêu nhiên, đòi hỏi nhiều can đảm và khổ hạnh. Loài người không làm được mà phải có ơn trợ giúp từ Thiên Chúa. Tuy nhiên theo tinh thần Phúc Âm hôm nay, nó là yêu sách của Chúa Giêsu và chúng ta phải làm quyết định, không những bằng lời nói nhưng bằng cuộc sống. Cho nên Chúa Thánh Thần đã được gởi đến trên các tông đồ, trên Giáo Hội và mỗi linh hồn. Hai tuần vừa qua, chúng ta đã mừng kính Ngài. Chính nhờ ơn Ngài mà chúng ta thực hiện được những ước mong của Chúa Giêsu. Thánh Thần hằng ở với Giáo Hội, ngự trị trong mỗi linh hồn công chính và nhiệt thành. Hằng ngày Ngài hướng dẫn và trợ giúp chúng ta thi hành các đòi hỏi của Chúa Giêsu. Khi chúng ta thức, ngủ, thờ phượng, tới văn phòng, trường học, sở làm, Ngài đều hiện diện để soi sáng và ban sức mạnh, ngõ hầu chúng ta sống xứng danh Kitô hữu.
Trong thánh lễ sáng nay, chúng ta lại được nghe Chúa Giêsu đặt câu hỏi: “Anh em bảo Thầy là ai?” Và qua Thánh Thể, chúng ta nghiệm ra bổn phận dấn thân của mình. Có lẽ chúng ta chưa đốt cháy thế giới bằng lửa nhiệt thành. Có lẽ chúng ta còn nguội lạnh giữ đạo theo hình thức và lễ nghi, đức tin chỉ là tờ giấy bao tường trang hoàng cho cuộc đời mình. Vậy chúng ta xin Chúa Thánh Thể, biến đổi tâm tính mình, xin Thần Khí Ngài thêm cho nghị lực và nhiệt tâm. Mặc dù giữa tháng sáu, sứ điệp của Tin Mừng hôm nay thấm đượm màu chay tịnh, đòi hỏi hy sinh và phục vụ, nhưng mùa nào đi nữa thì chúng ta vẫn là Kitô hữu toàn thời gian, say mê và can đảm.
Nhân cơ hội Chúa Giêsu kêu mời vác khổ giá theo Ngài mỗi ngày, chúng ta suy niệm về dấu thánh giá làm trên thân thể mình. Từ khi chịu phép rửa tội cho tới lúc nằm dưới mồ, thánh giá vẫn là biểu hiệu đức tin của mỗi tín hữu. Chúng ta yêu mến và làm dấu thánh giá mỗi ngày nhiều lần, xin Chúa ghi dấu ấn của Ngài trên ý nghĩ và hành động của mình. Dấu thánh giá không phải là phù phép hoặc đuổi ruồi muỗi, cho nên chúng ta phải thực hiện nghiêm chỉnh với đầy đủ đức tin. Ở Lộ Đức (nước Pháp), Đức Mẹ Vô Nhiễm đã dạy lại cách làm dấu thánh giá cho cô Bernadette Soubirous. Từ ấy cô được nhiều ơn ích. Hội Thánh có thói quen tốt lành vẽ dấu thánh giá trên các dự tòng từ rất sớm. Nhiều bằng chứng cho biết thói quen làm dấu thánh giá xuất hiện từ thế kỷ thứ hai. Đây là biểu hiệu khả thị nói lên tương giao con thảo của các tín hữu với Thượng Đế qua Đức Giêsu. Nó cũng là lời cầu nguyện sốt sắng cho tương giao đó ngày càng thắm thiết. Ước chi mỗi chúng ta ý thức hơn về hành động đạo đức này và ước chi dấu thánh giá mang lại bình an, hạnh phúc cho mỗi linh hồn suốt cuộc đời họ. Amen.