Maria, Trinh Nữ Của Niềm Vui: Vui Trong Thử Thách

Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người:

"Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!"


(Lc 2: 41-50)

Những người phụ trách các show hài hước kể chuyện vui thường có thói quen bắt đầu vào câu chuyện như sau: "Kính thưa quí vị, tôi có vài tin vui và vài tin buồn xin gửi đến quý vị." ("I have some good news and bad news for you.") Có một cuộc đối thoại tưởng tượng xảy ra như sau:

Một ông kia gặp người bạn và nói: "Tôi đã trúng số mấy chục ngàn đô la." Người bạn trả lời: "Quá vui." "Không, khi đến Thuỵ Sĩ chơi trượt tuyết tôi đã xài hết rồi, và còn bị gãy chân nữa chứ." "Ðáng buồn." "Không, trong thời gian nằm bệnh viện, tôi gặp và yêu một cô y tá rất xinh đẹp, rồi tôi đã cưới cô ta." "Quá vui." "Không, nhưng chẳng may cô ấy lại không thích ở Mỹ, và đòi chúng tôi phải ở lại Âu châu." "Ðáng buồn." "Không, chúng tôi mua nhà ở Paris và kiếm được một việc làm cho hãng xuất khẩu." "Quá vui." "Không, hãng bị phá sản, và chúng tôi bị mất nhà." "Ðáng buồn." "Không, trong hoàn cảnh túng quẫn, tôi đã xem xét lại mục đích, giá trị của đời mình và thấy rằng tôi đang sống lầm lạc." "Quá vui." "Không, vợ tôi đã không chấp nhận quan điểm của tôi, và chúng tôi dần dần xa cách nhau." "Ðáng buồn." "Không, trong lúc hôn nhân bị khủng hoảng, chúng tôi đến với người cố vấn hôn nhân giúp chúng tôi nhận ra sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa." "Quá vui." "Không, vì chúng tôi quá tập trung vào Thiên Chúa nên đã mất hầu hết bạn bè ở Paris và gây ra đụng chạm với cha mẹ vợ." "Ðáng buồn."

Cứ thế mà tiếp tục. Lúc vui, lúc buồn. Vì cuộc đời vô thường, luôn biến đổi, lúc có lúc không, nên con người cũng phải biết chấp nhận cái giá trị tương đối của hạnh phúc và đau khổ. Mượn lời thơ Kiều, đại văn hào Nguyễn Du cũng đã nói lên cái kinh nghiệm muôn thuở của cuộc đời:

"Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Lạ gì bỉ sắc tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen."


Ðau khổ sầu muộn không riêng gì cho phận má hồng, hay những người có tài, nhưng chung cho tất cả mọi người sinh ra trên cõi trần gian. Một cách nào đó, cũng không phải vì Ðức Maria mang phận "má hồng", nên phải chịu đến "bẩy sự thương khó" như truyền thống đã diễn tả. Cũng không phải vì Ðức Maria là Mẹ Thiên Chúa, nên luôn luôn tràn ngập niềm vui. Nhưng như một người lữ khách trong cuộc hành trình đức tin về quê trời, Ðức Maria tìm thấy niềm vui ẩn dấu trong những thử thách và đau khổ. Thánh Luca đã diễn tả điều này qua hai câu chuyện: dâng hiến Hài Nhi cho Thiên Chúa (Lc 2:22-24), và biến cố thất lạc, rồi đoàn tụ với Ngài trong đền thờ Giêrusalem vào dịp mừng lễ Vượt Qua lúc mười hai tuổi (Lc 2: 43-50).

1- Các cuộc hành trình:

Lịch sử của dân Thiên Chúa trong Cựu Ước là lịch sử của những cuộc hành trình. Tổ phụ Áp-ra-ham đã được Chúa gọi để lên đường thực hiện cuộc hành trình về miền đất hứa (St 12:1). Mô-sê dẫn dân Chúa rời bỏ Ai Cập đi vào cuộc hành trình 40 năm trong sa mạc tiến về miền đất hứa đó (Xh 13:37).

Theo các học giả thánh kinh, Phúc Âm của Thánh Luca là bản tường thuật về những cuộc hành trình. Mỗi cuộc hành trình đều có một ý nghĩa thiêng liêng liên hệ đến sự cứu rỗi nhân loại của Chúa Giêsu.

Khởi đầu Phúc Âm là cuộc hành trình của sứ thần Gáprien đến truyền tin cho Ðức Maria (Lc 1:26), rồi Maria lên đường đi thăm bà Êlisabét đem Tin Mừng cứu rỗi (Lc 1:39). Cuộc hành trình của Maria và Giuse lên thành Bêlem sinh Hài Nhi Giêsu trong máng cỏ (Lc 2: 5). Những người chăn chiên đến thờ lạy Người (Lc 2:16). Và để kết thúc bản tường trình về thời thơ ấu của Chúa Giêsu là hai cuộc hành trình lên đền Giêrusalem dâng hiến Hài Nhi Giêsu cho Thiên Chúa (Lc 2:22), và dự lễ Vượt Qua lúc Con Trẻ mười hai tuổi (Lc 2:42).

Sau đó, để bắt đầu thi hành sứ mệnh công khai của Chúa Giêsu, Gioan Tẩy Giả lên đường rao giảng sám hối (Lc 3:3), rồi tới các cuộc hành trình rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu với các bữa tiệc ở khắp nơi. Tất cả những cuộc hành trình này, do tài năng khéo léo của Luca, đã được sắp xếp dàn dựng rất tài tình để ăn khớp, hòa nhịp với cuộc hành trình vĩ đại nhất bắt đầu ở chương 9: lên Giêrusalem; và kết thúc ở chương 19: Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để cử hành lễ Vượt Qua, dân chúng trải áo xuống đường đón rước Ngài bằng cành lá Ôliu (Lc 9:51 - 19:44). Qua 10 chương thánh kinh này, các học giả gọi là "bản tường thuật về cuộc hành trình", chiếm hết 1/3 phúc âm của Luca, Luca muốn nói đến việc sửa soạn của Chúa Giêsu cho cuộc hành trình của chính Ngài: sự thương khó, sự chết, sống lại và lên trời.

Sau cùng, phần kết của Phúc Âm tường thuật câu chuyện Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường về Em-mau, một cuộc hành trình trong tuyệt vọng (Lc 24:13-35), để giúp họ lấy lại niềm tin vào sự sống lại vinh quang của Ngài. Ðó cũng là cuộc hành trình đức tin của mỗi người Kitô hữu.

2- Maria, người lữ khách:

Qua các cuộc hành trình này, điều hiển nhiên chúng ta nhận thấy là vai trò nổi bật và chính yếu của Ðức Maria trong phần tường thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu. Chính Maria là đối tượng hoặc là người thực hiện các cuộc hành trình. Trong sách Công Vụ Tông Ðồ mà quyền tác giả thường được xem là của Luca, cũng đã nhắc đến vai trò quan trọng của Ðức Maria trong ngày lễ Ngũ Tuần, cùng cầu nguyện và hiện diện với các Tông Ðồ (Cv 1:14). Ðối với Luca, cuộc hành trình đức tin của Ðức Maria đã trở thành mẫu mực cho tất cả mọi tín hữu. Ðức Maria là người lữ khách tuyệt vời đã sống theo khuôn mẫu của Chúa Giêsu Kitô.

Dựa theo Phúc Âm của Luca, Giáo Hội đã dùng hai biến cố xảy ra ở đền thờ Giêrusalem: hiến dâng Hài Nhi Giêsu cho Thiên Chúa (Lc 2:21-28), thất lạc và tìm thấy Con Trẻ Giêsu trong đền thờ (Lc 2:41-52), để suy gẫm ngắm thứ tư và thứ năm của Năm Mầu Nhiệm Vui Mừng Kinh Mân Côi. Mặc dù cả hai câu chuyện đều tập trung vào Chúa Giêsu, nhưng những chi tiết xảy ra đã giúp chúng ta hiểu biết thêm về cuộc hành trình đức tin của Mẹ Maria. Ðức Maria như một người lữ khách đầy tin tưởng, yêu thương và trông cậy vào Thiên Chúa. Chính những nhân đức căn bản này mang lại niềm vui cho Ðức Maria khi gặp gian nan, thử thách và khó hiểu.

a- Dâng Hiến (Lc 2:22-24):

Biến cố xảy ra sau khi Chúa Giêsu giáng sinh một thời gian ngắn. Giuse và Maria đã tuân theo luật lệ của Mô-sê và hành động theo đúng những chỉ dẫn (Lc 2:22-24). Bổn phận của bậc làm cha mẹ đã đưa dẫn hai người hành động. Bổn phận này dựa trên niềm tin tưởng vào lời giao ước của Thiên Chúa với dân Israel. Họ đã giữ luật với một niềm xác tín sâu xa được lưu truyền trong gia tộc và cộng đoàn.

Ðây còn là một giao ước của tình yêu thương giữa Thiên Chúa và dân Israel nữa như lời tiên tri Êdêkien đã nói: "Các ngươi sẽ cư ngụ trong đất Ta đã ban cho tổ tiên các người. Các ngươi sẽ là dân của Ta. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi." (Ed 36:28). Giữ luật, và hành động phù hợp với ý nghĩa của luật là dấu chỉ của lòng trung thành và yêu mến đối với Thiên Chúa. Tiến dâng Hài Nhi Giêsu và dâng hiến của lễ theo luật của Thiên Chúa truyền là một bổn phận của tình yêu, không phải chỉ là tuân giữ luật pháp đòi hỏi như đã ghi trên giấy tờ.

Khi ở đền thờ, tiên tri Simêon, được đầy ơn Chúa Thánh Thần đã nói rằng Hài Nhi Giêsu chính là niềm hy vọng, sự hoàn tất của những lời Thiên Chúa đã hứa với dân Israel (Lc 2:30-32), nhưng cũng là duyên cớ cho nhiều người vấp ngã, chống đối, và chính bà thì "một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà." (Lc 2: 34-35). Còn bà Anna đã cảm tạ Thiên Chúa, vì Hài Nhi chính là Ðấng mà những ai đang mong chờ Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem (Lc 2:38). Những lời tiên tri của ông Simêon và bà Anna về Hài Nhi vừa mang lại hy vọng, vừa làm cho Ðức Maria phải băn khoăn, lo nghĩ vì khó hiểu!

b- Thất lạc và tìm thấy: (Lc 2: 43-50)

Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong đền thờ Ðền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe vừa đặt câu hỏi. Ai nghe cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đáp của cậu. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" Người đáp: "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói. (Lc 2: 46-50).

Cả hai câu chuyện trên tuy mang tin vui, nhưng đều đưa dẫn đến một sự lúng túng, bối rối và khó hiểu. Niềm vui đã ẩn dấu một nỗi buồn. Những điều khó hiểu này vượt ra ngoài sự mong chờ của cha mẹ bình thường đối với một người con. Ðức tin và lòng trông cậy đã dẫn Ðức Maria phải chạy đến thỉnh cầu nơi Thiên Chúa.

3- Thái độ của Ðức Maria:

Ngoài các nhân căn bản: đức tin, đức mến, và đức cậy của Ðức Maria, thánh Luca còn ghi rõ thái độ của Ðức Maria. Mặc dù khó hiểu, nhưng Ðức Maria đã làm hai điều: phó thác và suy niệm. Sự thinh lặng của Maria sau khi nghe những lời ông Simêon, bà Anna, và những lời của Chúa Giêsu đã nói trong đền thờ là một dấu chỉ của sự chấp thuận, mặc dù là không hiểu. Maria đã suy gẫm và tự thắc mắc về những kinh nghiệm và những lời nói này: "Riêng Mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng." (Lc 2: 51). Suy niệm trong sự phó thác là đường lối của Ðức Maria. Hay nói một cách khác, Ðức Maria đã tự để cho mình sống trong những kinh nghiệm và lời nói khó hiểu này với lòng trông cậy vào những lời hứa của Thiên Chúa đối với con mình và với chính cuộc đời của mình.

Nghịch cảnh và thử thách đã không ngăn cản được Ðức Maria tin tưởng vào Thiên Chúa. Vì biết rằng chúng chỉ là một phần của đời sống tự nhiên, đó không phải là toàn thể của cuộc sống, do đó, Ðức Maria đã không bị sự bối rối thống trị.

Với kinh nghiệm nhân sinh, chúng ta cũng biết rằng bệnh tật, tai nạn, mất công việc làm ăn, mất của cải hay người thân yêu, khó khăn, thử thách... nhiều khi đã xảy ra trong một lúc nào đó, nhưng đã gây ảnh hưởng kéo dài, thống trị toàn thể cuộc đời của chúng ta. Thực ra, chúng chỉ là một phần của cuộc sống đã xảy ra trong một lúc nào đó mà thôi. Nhưng chúng ta đã không biết vượt ra khỏi chúng, đôi khi lại còn thảm kịch hóa và biến chúng ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc đời. Chúng ta quên rằng cổ nhân đã dạy: "Sông có khúc, đời có lúc." Ðức Maria đã ý thức được điều này. Trong thinh lặng suy niệm và phó thác, Maria đã không để cho cái đặc tính khó hiểu của một phần đời này chi phối tương lai của mình. Nghịch cảnh, khó khăn, thử thách đã không vùi lấp được tương lai trước mặt của Ðức Maria trong vai trò làm Mẹ Ðấng Cứu Thế. Nhưng trái lại chúng lại càng làm tăng vẻ đẹp, giá trị và niềm vui của Mẹ Maria.

4- Cuộc đời của chúng ta:

Sai Baba đã định nghĩa cuộc đời như sau: "Ðời là một bài ca. Hãy hát lên! Ðời là một ván bài. Hãy cứ chơi! Ðời là một thách đố. Hãy đương đầu! Ðời là một giấc mơ. Hãy thực hiện! Ðời là một hy sinh. Hãy dâng hiến! Ðời là một cuộc tình. Hãy thưởng thức!"

Nếu đời là bài ca, tùy ta thích bài ca buồn hay vui, rất nhiều người lại thích bản nhạc buồn thấm thía. Nếu đời là ván bài, tránh sao khỏi bị ăn thua. Nếu đời là thách đố, thắng bại không biết được. Nếu đời là giấc mơ, có nhiều giấc mơ đẹp và giấc mơ chưa tròn. Nếu đời là hy sinh, thường phải hy sinh vì yêu. Nếu đời là cuộc tình, thì nhiều cuộc tình là thú đau thương!

Hãy nhìn vào cuộc đời của Chúa Giêsu để thấy định nghĩa trên đúng hay sai. Thập giá của Chúa Giêsu cũng chính là Thánh Giá của sự sống lại mà chúng ta chứng kiến khi Người được nâng lên cao trong vinh quang. Lời Chúa Giêsu đã phán: "Khi nào Ta được nâng lên cao khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta." (Ga 12:32) được ám chỉ không những cho sự đóng đinh của Người trên thập giá, nhưng còn áp dụng cho sự sống lại của Người nữa. Ðược nâng lên không chỉ được nâng lên như một người bị đóng đinh, nhưng còn được nâng lên như một người sống lại. Ðiều này không chỉ nói về cơn hấp hối và buồn sầu, nhưng còn về niềm hoan lạc và vui mừng.

Quả thật, như Mô-sê đã nâng con rắn đồng lên để chữa lành cho nhiều người (Ds 21:8-9), "Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời." (Ga 3: 14-15). Thập giá đau khổ của Chúa Giêsu là tiêu chuẩn để chữa lành cho nhân loại. Nhưng Chúa Giêsu Phục Sinh còn mang lại sự sống đời đời cho tất cả mọi người. Chúa Giêsu đã chia sẻ trọn vẹn tất cả những đau khổ của chúng ta, Người cũng muốn chúng ta tham dự đầy đủ vào sự vui mừng và vinh quang của Người. Chúa Giêsu, nguồn mạch của niềm vui, cũng muốn chúng ta thuộc về dân tộc và vương quốc của niềm hoan lạc.

Có một dụ ngôn kể về một ông nông dân làm chủ một con lừa già và một cái giếng. Một ngày kia con lừa bị rơi xuống cái giếng cạn nước. Ông nông dân nghe tiếng rên rỉ, kêu la, xin cầu cứu của con lừa. Sau khi xem xét kỹ lưỡng tình thế xảy ra, ông nông dân rất thương xót con lừa, nhưng cũng không muốn mất cái giếng cung cấp nguồn nước tuy ít nhưng rất cần thiết cho cây cối trong nông trại giữa vùng khô cằn. Cả hai đều phải giữ lại để sinh lợi cho ông.

Ông triệu tập hàng xóm láng giềng lại, cho họ biết câu chuyện đã xảy ra, và yêu cầu họ giúp ông xúc đất đổ xuống giếng để ông khỏi phải chứng kiến cảnh thống khổ than khóc của con lừa yêu quý. Lúc ban đầu, con lừa già rất hoảng hốt sợ hãi. Nhưng khi người ta xúc đất đổ xuống giếng, đất cát nằm đầy trên lưng, nó chợt nghĩ ra một ý tưởng. Với ánh sáng hy vọng, nó phát hiện ra rằng mỗi xẻng đất đổ xuống giếng đều nằm trên lưng nó, nếu lúc lắc thân mình, giũ đất xuống đáy giếng, nó sẽ bước lên trên đất! Cứ làm như vậy, từng xẻng đất đổ xuống. "Giũ đất xuống và bước lên trên... Giũ đất xuống và bước lên trên... Giũ đất xuống và bước lên trên!..." Con lừa già cứ lập đi lập lại điều này để khích lệ sức chịu đựng của mình, mặc dù nó phải cắn răng chịu đau và cố gắng làm chủ nỗi sợ hãi.

Chẳng bao lâu, con lừa đã bước lên đến miệng giếng một cách huy hoàng, mặc dù cái lưng nó bị bầm dập và kiệt sức. Số lượng đất để chôn vùi con lừa dưới giếng đã giúp cho nó thoát ra khỏi tai nạn. Giũ đất xuống và bước lên trên! Tất cả mọi sự cũng chỉ hệ tại cái cách người ta biết vận dụng nghịch cảnh của mình.

Ðó là cuộc đời! Nếu chúng ta đối diện với những trắc trở khó khăn của mình, rồi đáp trả lại một cách tích cực, đừng bao giờ tự đầu hàng trước những cảm xúc tự nhiên xảy đến lúc ban đầu như sợ hãi, lúng túng, xót xa... thì những nghịch cảnh, thay vì chôn vùi chúng ta xuống, tự chúng sẽ mang lại nhiều ích lợi cho chúng ta. "Giũ đất xuống và bước lên trên!" Giống như Ðức Maria, sau khi vượt qua đau khổ và thử thách chúng ta sẽ thấy được niềm vui vì mình đã được thanh lọc, đã từng trải, có kinh nghiệm phong phú và trở nên trưởng thành hơn.

Bất cứ ai có can đảm đi sâu vào những buồn sầu và đau khổ của mình, cũng sẽ nhận ra ánh sáng của niềm vui dấu ẩn bên trong những thử thách đó giống như những viên đá quý ẩn tàng ở vách tường của một hang động u tối.

Là những người Kitô hữu đang bước trên cuộc hành trình đức tin về quê trời, chắc chắn rằng chúng ta sẽ không bước đi một mình, nhưng có Ðức Maria cùng đi với chúng ta như khi xưa Mẹ đã theo sát Chúa Giêsu từng bước trong cuộc đời. Nhìn lên thập giá chịu đóng đinh và sống lại của Chúa Giêsu là khuôn mẫu, có Mẹ Maria cùng đồng hành, chúng ta sẽ bước đi trong hy vọng như thánh Phaolô khi xưa đã biết vui trong đau khổ (Rm 5:3-5), và như thánh Phêrô và Giacôbê hoan lạc trong khó khăn (1 Pr 1:6-8; Gc 1:2).

Lm Giuse Nguyễn Văn Thái.