(NHÂN LỄ GIÁNG SINH, SUY NGHĨ VỀ ƠN GỌI LM)

Người ta nói, bông hồng tượng trưng cho tình yêu. Vì thế, để bày tỏ lòng yêu thương nhau, người ta thường trao tặng bông hồng. Cũng chính vì thế, ngày Valentine, ngày Tình yêu, bông hồng, tự lúc nào, trở thành biểu tượng mà không cần giấy mực ký nhận, chỉ có lòng người yêu nhau đã hợp thức hoá cho ý nghĩa ấy. Bởi thế, dù chỉ với một cành hồng, tình vẫn có thể nồng nàn hơn cả với bảo ngọc trân châu. Vì với lòng yêu thương chân thật, dù chỉ một cành hồng, tình vẫn đằm thắm, vẫn kiêu sa hơn bảo ngọc trân châu mà lòng người đầy tính toán, vụ lợi, manh nha chiếm đoạt…

I. NHẬP THỂ VÀ SỰ TỰ HIẾN

Bông hồng đã đẹp. Bông hồng được trao tặng bằng cả một khối tình, lại là một vẻ đẹp không dễ gì thay thế. Nhưng trước sau, đóa hồng vẫn chỉ là một đóa hồng, giá trị của nó vẫn không bao giờ ví được giá trị của chính bản thân người nhận hoặc người tặng. Còn hơn thế, một đóa hồng, dẫu đẹp, sẽ biến đổi theo thời gian như chính lòng người, hôm nay trong vắt, ngày mai có thể vẫn đục…

Hôm nay, trong tư thế của người được lãnh nhận, mọi Kitô hữu đang háo hức chuẩn bị mừng ngày Chúa Giáng sinh. Nói rằng “trong tư thế của người được lãnh nhận” khi chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, là nói đến một ân ban tuyệt diệu mà mầu nhiệm Nhập Thể đã và vẫn tuôn tràn như một dòng chảy không ngơi nghỉ, không suy yếu. Nếu bông hồng là biểu trưng của tình yêu nhân loại thì mầu nhiệm Nhập Thể, một đóa hồng thánh thiện không chỉ là biểu trưng, cũng không đứng chung hàng với tình yêu nhân loại, nhưng là chính Tình Yêu Thiên Chúa, một tặng phẩm vượt trên giá trị của chính bản thân người nhận là toàn thể nhân loại này. Và nếu gọi Tình Yêu phát xuất từ Thiên Chúa là đóa hồng, thì đó chính là đóa hồng vĩnh cửu, đóa hồng mầu nhiệm không bao giờ có thể tàn phai.

Đó còn là một Tình Yêu làm điểm đối chiếu cho mọi tình yêu của nhân loại. Nhân loại hãy nhìn vào Tình Yêu trong mầu nhiệm Nhập Thể để học lấy cho mình bài học quý giá: Thiên Chúa đã phó mình cho trần gian. Vì nơi Thiên Chúa, yêu là tự hiến, là hủy mình. Có hiểu hết sự tự hiến và hủy mình vì yêu trong mầu nhiệm Nhập Thể, ta mới có thể hiểu được làm sao một vì Thiên Chúa cao sang là thế, uy quyền là thế, mạnh mẽ và lớn lao khôn cùng, lại có thể hóa thân nên một con người bé nhỏ, yếu ớt, mong manh. Có hiểu được một tình yêu tự hiến đến mức hủy mình, ta mới hiểu được làm sao một Thiên Chúa lại trở nên trần trụi và nghèo nàn đến thế.

Nếu mỗi người trong chúng ta có nghèo, nghèo lắm, khi sinh ra chắc không ai thiếu thốn, ngay cả một tấm áo che thân, một cái chõng tre, dù cũ kỹ, cũng không có. Khi sinh ra, nếu tệ lắm, có lẽ ta cũng nằm trong một căn chòi… Nhưng Tình Yêu của Đấng làm người đã tự hủy đến mức không những không đòi cho mình bất cứ một điều gì, ngược lại còn trút bỏ hoàn toàn, trút bỏ cho đến mức chối từ cả những điều kiện vật chất căn bản nhất, cần thiết nhất của một con người, đến nỗi sinh ra không phải trong một căn chòi, nhưng còn tệ hơn, sinh ra trong nơi trú ngụ của loài cầm thú; không nằm trong một chiếc nôi, nhưng lại là máng cỏ; không sinh ra trên một chiếc giường nhưng chỉ có cỏ rơm làm chiếu…

Mầu nhiệm Nhập Thể không dừng lại ở sự kiện giáng sinh. Thiên Chúa làm người còn tiếp tục tự hủy đến giây phút cuối đời. Người đã chấp nhận một cái chết thương đau và ô nhục: bị hành hình như một tên tử tội: chết trần trụi, treo giữa trời, giữa đất, giữa những tên tội phạm, thân thể thâm bầm, đầy thương tích…

Thiên Chúa là Thiên Chúa giàu có. Người quyền năng và mạnh mẽ. Vũ trụ và mọi sự trên trời dưới đất là của Người, thuộc về Người. Một Thiên Chúa giàu có là thế, nhưng khi làm người, đã hiến dâng hoàn toàn, như không còn giữ lại gì cho riêng mình, hiến dâng cả mạng sống. Một Thiên Chúa giàu có đã trở nên nghèo khó đến độ chỉ còn có Tình Yêu.

Như vậy, ngang qua mầu nhiệm nhập thể của Chúa Kitô, Thiên Chúa bày tỏ cho trần gian lòng yêu thương vô cùng của Người. Đó là một Tình Yêu mà ngàn đời, nhân loại cứ kiếm tìm, cứ khám phá, vẫn chưa bao giờ đạt tới, vẫn không hiểu thấu.

Nơi biến cố nhập thể, một mặt chính Tình Yêu và trong Tình Yêu, Thiên Chúa đã trao ban cả một mầu nhiệm vi đại. Mặt khác, chính Tình Yêu đã làm cho Đấng Thiên Chúa làm người, Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã hiến dâng lên Thiên Chúa lời “xin vâng” tuyệt hảo, chấp nhận sự tự hủy mình cho trần gian. Lòng vâng phục và sự tự hủy ấy chính là lý do ca ngợi Chúa Kitô của thư Dothái: “Dù là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (5, 8-9).

Để nối lại hình ảnh quà tặng bông hồng với ý nghĩa lớn lao của mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta cần hiểu rằng, tình yêu chỉ quý giá bởi người yêu dám hiến mình trao dâng, dám tự hủy chính bản thân vì người mình yêu, chứ không phải bởi món quà có thể cầm nắm, dẫu món quà đó là một cành hồng tươi hương thắm sắc. Nói cách khác, quà tặng làm cho tình yêu nên giá trị lộng lẫy và sang trọng, chỉ có thể là quà quà của sự tự hiến đến hủy mình vì người mình yêu.

Và nếu bông hồng chỉ nói thay cho lời yêu chứ không là chính tình yêu, thì Chúa Kitô hiến mình trong mầu nhiệm Nhập Thể là chính Tình Yêu xuất phát từ Thiên Chúa trao tặng loài người. Đó mới chính là Đóa Hồng vĩnh cửu, Đóa Hồng không bao giờ tàn phai: Một quà tặng vô giá, quà tặng của mọi quà tặng.

II. TẶNG PHẨM CỦA NGƯỜI NGHÈO.

Có một câu chuyện thế này: Vào đêm lễ Giáng sinh, không riêng người Công giáo, nhưng hầu như mọi người, đều đổ ra đường để đi đâu đó mừng đêm tưng bừng, đêm lễ hội. Vì thế mọi ngã đường sớm đông nghẹt. Theo dòng người đông đảo, Tôi - tác giả kể - bước về hướng nhà thờ. Chiếc loa phóng thanh trên đỉnh nhà thờ trổi bản nhạc mừng Chúa Giáng sinh thật vui, không làm tôi chú ý cho lắm. Một cảnh tượng khác đập và mắt tôi: Một người đàn ông trạc bốn mươi, chắc là bảo vệ nhà thờ, lôi xồng xộc một em bé ra ngoài khuôn viên nhà thờ. Trên tay em là một xấp vé số dày cộm. Vừa lôi em, miệng anh vừa la lối: “Ra ngoài bán, ở đây không phải chỗ!”. Cùng lúc ấy, tôi nghe một giọng nói ấm áp từ phía sau lưng mình: “Này anh, thôi đừng đuổi em bé nữa. Đêm nay Chúa Giáng sinh là để cho em và cho những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó như em. Anh hiểu chứ?”. Phản xạ tự nhiên, Tôi xoay người lại xem giọng nói của ai? À, chiếc áo chùng thâm. Hóa ra một linh mục. Tôi còn nghe cha nói thêm: “Cần phải có những người như em bé này ở trong nhà thờ đêm nay, để họ hiểu rằng, Chúa cũng nghèo lắm, nghèo như chính bản thân họ vậy”.

Vị linh mục bước đi. Người bảo vệ nhìn theo, ánh mắt vẫn chứa đầy một khoảng không im lặng. Chắc anh ta ngỡ ngàng lắm, nhưng cũng thẹn lắm vì vừa mới nhận ra một bài học quý giá. Tôi nhìn lên bầu trời hít thở không khí đêm đông lành lạnh thật sản khoái, chợt nhận ra ánh sao đêm nay sáng và đẹp tuyệt vời…

Có thể khi dẫn chứng bằng câu chuyện và những hình ảnh mà câu chuyện lột tả, sẽ có nhiều ý kiến khác nhau của nhiều người: đồng ý và không chấp nhận, khen hoặc thấy khó chịu; cũng có thể nhận định rằng, anh bảo vệ đúng, vị linh mục chưa đúng… Riêng tôi, chỉ nhằm một chủ đích duy nhất: minh họa cho những gì đã suy nghĩ, để nhấn mạnh đến một điều quan trọng và lớn lao hơn nhiều: Tình Yêu Thiên Chúa nơi mầu nhiệm Nhập Thể.

Nội dung câu chuyện thật ngắn, thật đơn sơ, nhưng tôi thấy chất chứa bên trong nó một vài cảm nhận. Đó là cảm nhận về một quà tặng của Tình Trời được gởi trao cho người trần, một quà tặng tuyệt đối, quà tặng vô giá được ban tặng nhưng không: Thiên Chúa đã trao tặng chính người Con Một dấu ái của Người: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

Dù thánh Gioan không nhắc tới cách hiển nhiên hai tiếng “quà tặng”, nhưng khi lặp lại lời của Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: “Thiên Chúa đã YÊU… đến nỗi đã BAN”, thì không là nói bằng ngôn ngữ của quà tặng đó sao. Và trong hai tiếng quà tặng đã hàm chứa tình yêu và sự trao ban. Nơi Thiên Chúa, dù quà tặng chính là một ân ban thần linh diệu kỳ lại quá sức cụ thể nơi một con người mang tên Giêsu Kitô.

Và nơi Thiên Chúa làm người mang tên Giêsu Kitô, đã là Thiên Chúa giàu có, nhưng đã chấp nhận hủy mình để trao dâng tất cả, để tỏ lòng yêu thương, thì lời của linh mục trong câu chuyện kể trên: “Đừng đuổi em bé. Đêm nay Chúa Giáng sinh là để cho em và cho những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó như em”, và “Cần phải có những người như em bé này ở trong nhà thờ đêm nay, để họ hiểu rằng, Chúa cũng nghèo lắm, nghèo như chính bản thân họ vậy”, thật đáng chú ý và đáng suy nghĩ. Cũng vậy, không hề nhắc tới hai tiếng “quà tặng”, nhưng qua lời đối thoại, những kiểu nói: “để cho”, hay “Chúa cũng nghèo như chính họ vậy”, tác giả đã đặt lên môi nhân vật ngôn ngữ của quà tặng, một quà tặng chứa đầy tình yêu.

Nhưng hình như trong lời đối thoại của nhân vật linh mục, chỉ có “những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó” mới đáng lãnh nhận quà tặng Giêsu. Đọc lại Tin mừng của đêm Giáng sinh, ta cũng sẽ thấy rõ điều này. Ngay sau khi Đấng tự hiến mình đã sinh làm người, thiên thần loan tin mừng Giáng sinh. Nhưng lời của thiên thần: “Hôm nay Đấng Cứu Thế giáng sinh cho các ngươi” (Lc 2, 11) không thể nào vang đến dinh tổng trấn Philatô, hoặc ngai vàng vua Hêrôđê hay dinh thượng tế Caipha, lại thuộc về những mục đồng, những người chỉ biết làm quen với cái nghèo, làm bạn với đàn súc vật. Nghèo vật chất đã vậy, họ còn là những người dốt nát, chọn cho mình kiếp sống rày đây mai đó…

Và dấu chỉ của quà tặng vô giá mà thiên thần giới thiệu là gì? Đó là: “Đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Người: các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 12). Một dấu chỉ quá đỗi đơn sơ, nghèo hèn. Nhưng chất chứa trong dáng vẻ đơn nghèo, dấu chỉ ấy là một dấu chỉ vi đại, dấu chỉ về một tặng phẩm thần linh: Thiên Chúa làm người!

Hóa ra quà tặng thần linh được dâng tặng, được trao ban, không phải chỉ có những người hèn hạ, khốn khổ mới có thể lãnh nhận. Nhưng Đấng ban tặng chính mình cũng trở nên người nghèo. Chỉ có hiến mình dâng tặng như thế, quà tặng Giêsu mới thật là quà tặng cần thiết và tròn đầy ý nghĩa.

Vậy để đón nhận và hiến dâng trọn vẹn quà tặng của yêu thương, đòi người ta phải có sự trút bỏ bằng một tinh thần nghèo khó, bằng một ý thức hiến mình thực sự, không thể làm khác được. Như vậy chính trong sự nghèo khó, người ta lại trở nên giàu có, vì có chính Thiên Chúa làm tặng phẩm vô giá của mình. Bởi vậy, ta mới hiểu vì sao Chúa Giêsu lại nói: “Phúc cho các ngươi là những người nghèo” (Lc 6, 20).

III. THÁNH HIẾN LÀ DÂNG TẶNG ĐỜI MÌNH.

Đã gọi là quà, quà tặng cần phải trao ban. Quà không trao ban không phải là quà. Quà chỉ có giá trị khi nó được dâng tặng bằng cả tình yêu. Ai đó đã ví von pha chút mỉa mai: “Linh mục ban của thánh và nhận của phàm”. Không biết lời ví von ấy đúng hay không? Nhưng nếu ít nhiều có sự thật, đó không còn là lời nói cho vui, mà trở thành lời bậc thốt từ nỗi xót xa. Hơn nữa, nếu đúng như thế thì đời thánh hiến đã bị lệch, bị méo. Bởi thay vì chức linh mục như một quà tặng dâng cho đời, lại trở thành phương tiện để thỏa ích kỷ riêng, để vụ lợi. Nói cho cùng, đó chính là nỗi bi đát. Như vậy, đời thánh hiến chỉ còn là một phương tiện để xây pháo đài của bản thân. Nếu tin mừng đầu tiên của mầu nhiệm nhập thể đã không thể vọng đến dinh tổng trấn và thượng tế, hay đền vua, thì những pháo đài hôm nay, chắc sẽ rơi vào một mối nguy lớn: Thiếu vắng Tin Mừng Tình Yêu, dẫu Tin Mừng ấy vẫn được rao giảng từng ngày, mọi nơi.

Ơn thánh hiến mà bị lạm dụng, có khác chi lời tiên tri Êgiêkiel cảnh báo từ rất xưa: “Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc” (Ed 34, 2- 4).

Suy niệm về ý nghĩa của Tình Yêu Nhập Thể như thế, người linh mục nhận ra mình. Một khi bước theo Chúa Kitô trong đời sống thánh hiến, người linh mục chỉ dám nói mình nên giống Chúa Kitô khi đã có thể sống đời hiến dâng như Chúa Kitô. Ngay cụm từ “Đời sống Thánh hiến”, đủ để nói lên ý nghĩa của sự hiến dâng mình trong chức linh mục.

Nói linh mục dâng mình để sống đời thánh hiến trong chức linh mục là điều không khó. Nhưng trước sau, linh mục vẫn là con người. Linh mục sống đời thánh hiến hoàn hảo như Chúa Kitô không dễ chút nào. Tuy nhiên, khó không có nghĩa là không thể thực hiện, càng không bao giờ được phép đầu hàng. Trong đời sống thánh hiến, đầu hàng không chỉ là thua cuộc, mà còn là đánh mất. Vì không dám và không ý thức đời hiến dâng, linh mục chỉ còn danh chứ không còn thực.

Bông hồng tượng trưng cho tình yêu. Nhưng bông hồng chỉ thực sự làm nên ý nghĩa của tình yêu, khi người ta trao tặng cho nhau bằng cả một khối tình chân thật. Nhưng với Chúa Kitô, hơn cả những mối tình mà ta gọi là chân thật nhất, trong cuộc Nhập Thể, từ thân phận Thiên Chúa trở nên phàm nhân, chấp nhận lặn sâu trong kiếp người để chia sẻ thân phận con người của mỗi chúng ta, Người đã trao tặng cho ta không phải một đóa hồng, mà là một Đóa Hồng vĩnh cửu, một quà tặng vô giá là chính bản thân của Người.

Linh mục được Chúa Kitô mời gọi và bước theo Người. Chỉ có một điều duy nhất làm cho linh mục có thể nên giống Chúa Kitô, sống chính sự sống của Chúa Kitô cách trọn nghĩa, là khi linh mục dám ướm thử đời mình theo khuôn mẫu cuộc đời Chúa Kitô. Đó là biết trút bỏ những ham hố, tham vọng, mưu cầu tư lợi… và tự hủy mình trở nên người phụng sự Chúa, phục vụ con người như Chúa muốn.

Hãy nhớ rằng, một khi Chúa Kitô tự hủy để sống nghèo khó, Người trở nên quà tặng vô giá. Linh mục cũng sẽ trở nên quà tặng khi biết trút bỏ, để sống sự nghèo khó như Chúa.

Vì thánh hiến là dâng tặng đời mình. Linh mục sống đời thánh hiến, nghĩa là linh mục tắm mình trong tình yêu Thiên Chúa để hiến dâng tình yêu đã được thánh hiến của mình trao tặng anh chị em. Nhờ thế, linh mục không chỉ sống mầu nhiệm nhập thể, mà còn làm cho mầu nhiệm ấy thẩm thấu trong đời thánh hiến của mình. Xuyên qua những điều tốt lành ấy, linh mục đã sống hoàn hảo ơn gọi nên thánh trong thánh chức.

Bông hồng trao tặng là để bày tỏ lòng yêu thương. Con người biết hủy mình để dâng tặng tình yêu, lời tỏ tình ấy có giá trị gấp ngàn lần những cánh hồng tươi nở. Nhưng nếu hiến dâng đời mình trong ơn gọi thánh hiến, hơn tất cả mọi lời yêu thương, người linh mục trở thành một con đường tình yêu nối trời cao với trần thế, đưa con người đến với Thiên Chúa, và trao ban chính Thiên Chúa cho con người. Có còn nét đẹp nào có thể sánh bằng nét đẹp của ơn thánh hiến để dâng tặng đời mình như thế!

VẤN TÂM

1. Bây giờ là mùa vọng, hướng tới việc mừng Chúa Giáng sinh, tôi đã chuẩn bị tâm hồn thế nào để đón chờ ngày Chúa đến?

2. Chúa Kitô nhập thể, trở nên quà tặng của Thiên Chúa tặng ban cho loài người. Chính khi nhập thể làm người, Chúa Kitô đã chấp nhận hủy mình như thánh Phaolô đã từng viết trong thư Philipphê: “Đức Giêsu Kitô vốn vĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Ngài lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Philip 2, 6 -8).

a. Bước theo ơn gọi là được Chúa Kiô mời gọi bước theo Người. Tôi có thật sự bước theo Chúa để trở nên môn đệ và là người loan tin bình an của Người cho anh chị em, hay ngược lại, nhiều lần tôi cậy vào quyền lãnh đạo của mình, đã gây nhiều phiền toái hay đòi hỏi, yêu sách, hoặc muốn sống thanh nhàn, vụ lợi, vụ hình thức?

b. Tôi có ý thức, mình cần phải sống chính cuộc sống của Chúa Kitô để từng ngày cố gắng hơn trong thánh chức của mình?

c. Sống chính cuộc sống của Chúa Kitô là tự hủy mình để nên quà tặng. Vậy tôi có ý thức sự từ bỏ, bao gồm: ý riêng mình, lối sống giàu sang, trưởng giả. Hay tôi thích được cung phụng chứ không phải hạ mình để phục vụ?

3. Ơn gọi linh mục là ơn gọi nhằm phụng sự Chúa, phục vụ Giáo Hội và phục vụ con người. Biết thế, nhưng tôi vẫn tìm mọi cách để làm linh mục cho bằng được, dẫu cách ấy là con đường vật chất. Và hôm nay, khi đã là linh mục, tôi tìm lại những gì đã đánh đổi thánh chức trước kia?

HƯỚNG VỀ VĨNH CỬU

Sống giữa cộng đoàn dân Chúa và cả những người chưa biết Chúa, linh mục trở thành mẫu gương sống đức tin cho mọi người. Đức tin đòi hỏi người linh mục chấp nhận sự tự hiến mình, mang lại ơn cứu rỗi, trước hết cho mình, sau là anh chị em xung quanh.

Sự tự hiến đòi linh mục chấp nhận thập giá. Đó là những khó khăn, có khi cả đau khổ. Chấp nhận thập giá, linh mục sẽ chấp nhận sống nghèo khó, sống dấn thân như Chúa Giêsu để phục vụ con người, phục vụ Giáo Hội và phụng sự Chúa.

Chấp nhận thập giá, linh mục sẽ biết chấp nhận và thánh hóa sự độc thân của mình, biết chấp nhận và thánh hóa những hiểu lầm, những chống đối đến từ phía người khác. Biết chấp nhận thập giá như thế, người linh mục sẽ không oán hận mà dễ tha thứ hơn.

Chính khi hiến thân trọn vẹn trong thánh chức như thế, linh mục sẽ là một đoá hồng tươi thắm dâng tặng cho đời. Đoá hồng của đời linh mục sẽ biến thành niềm vui mừng, vì một ngày kia, nó sẽ tiễn đưa người linh mục bước vào sự sống của Chúa Kitô, sự sống của chính Thiên Chúa. Vì nếu tội lỗi hôm nay sẽ thành hậu quả vĩnh cửu, cũng vậy, công đức hôm nay sẽ nên phần thưởng đời đời: đó chính là được sống chính sự sống của Thiên Chúa.