Chiều ngày 19/4/1994, tại nhà thờ tu viện-giáo xứ Mai Khôi, chúng tôi vừa bắt đầu cử hành thánh lễ, thì thấy Mẹ Têrêsa và các con cái của Mẹ từ từ tiến vào nhà thờ. Không cần phải ai giới thiệu, tất cả mọi người đều nhận ra đó là Mẹ Têrêsa Calcutta, Mọi người đều lộ vẻ ngạc nhiên và hân hoan. Đây quả thật là một niềm vui lớn, một vinh dự cho chúng tôi, bởi vì trong thâm tâm, ai cũng nghĩ rằng, hôm nay trong đời mình, lần đầu tiên được đón tiếp "một vị thánh". Thật vậy, sau thánh lễ, mọi người đều kéo nhau ra ngoài chờ đợi, như muốn ngăn không cho Mẹ rời khỏi nhà thờ Mai Khôi. Khi Mẹ vừa bước ra cuối nhà thờ, thì đã bị mọi người vây kín. Cả cha Nguyễn Huy Lịch hay tin Mẹ tới, cũng đầy xe lăn từ bên Trung Tâm Phục sinh sang để chào Mẹ, Bác tài xế chở Mẹ đến đây, là một nhân viên của lãnh sự quân Ấn Độ, nói với chúng tôi rằng : Mẹ đã là một vị thánh rồi !
Sau ngày đáng ghi nhớ đó, chúng tôi còn đuợc dịp đón tiếp Mẹ đến cùng dâng lễ với chúng tôi hai ba lần khác nữa.
Sau khi nghe tin Mẹ qua đời ngày 05 - 09 - 1997, ai cũng tin chắc chắn Mẹ sẽ sớm được "phong thánh". Và quả thật như vậy, chỉ sau 6 năm, ngày 19 - 10 - 2003 nay, Mẹ sẽ được Đức Gioan Phaolô II ghi danh vào sổ các Chân Phước của Giáo Hội Công Giáo. Mẹ đã phá mọi kỷ lực về thủ tục "phong thánh" mà chắc chắn không một ai phản đối.
Vì thế, nhân dịp nay, tôi muốn ghi lại đôi dòng về Mẹ. Nhưng thú thật rằng viết về Mẹ rất dễ, nhưng cũng lại rất khó. Dễ vì cuộc đời của Mẹ quá giản dị, chỉ gói ghém trong mấy chữ yêu thương người cùng khốn. Hay nói đúng hơn, Mẹ chỉ chó một danh hiệu là Bác Ái. Nhưng khó, bởi vì người ta không thể dùng ngôn ngữ hay tư tưởng để diễn tả cái đơn sơ giản dị, mà không có nguy cơ che khuất mất chính cái đơn sơ giản dị ấy, như kiểu những ngón tay muốn chỉ mặt trăng, nhưng vô tình lại có thể che khuất chính mặt trăng !
Vì vậy, trong bài nay, tôi cố gắng để Mẹ Têrêsa nói về mình, qua những lời Mẹ nói với Chúa.
* * *
Tôi tìm một tựa đề cho bài viết về Mẹ Têrêsa Calcutta, bằng cách đọc lại các tựa đề mà chính Mẹ đã đặt cho các bài viết của Mẹ về cầu nguyện, in trong cuốn cầu nguyện : Dòng suối mát trong , viết chung với Sư huynh Roger, mà tôi đã dịch ra tiếng Việt và xuất bản lần thứ nhất năm 1994, và vừa được tái bản, để mừng ngày Mẹ đuợc tôn vinh như một Chân Phúc của Giáo Hội Công Giáo. Đó là tựa đề bài viết số 9 trong tập sách nhỏ nói trên : Một trái tim trong sáng.
Các nhà hiền triết, các bậc thánh nhân, nói chung thường giống nhau ở một điểm : họ có một tâm hồn đơn sơ trong sáng, nghĩa là có sao thì tỏ ra như vậy, không tìm cách tỏ ra thế này thế khác, không những chẳng làm dáng làm điệu, mà còn không che đậy những khiếm khuyết của mình về thể xác cũng như tâm hồn. Tóm lại, sự trong sáng ở đây đồng nghĩa với đơn sơ, chân thật, tới mức có thể bị coi là "ngố", đặc biệt là trong thế giới ngày càng giả tạo của chúng ta hiện nay : nào là son phấn, áo quần theo mốt, hợp thời trang, cử chỉ điệu bộ hợp với địa vị trong xã hội hay Giáo hội..Nói tóm lại, các ngài là những người mộc mạc, không có lấy một lớp vẹc -ni đánh bóng, mà chỉ thực sự nguyên vẹn là mình.
Mẹ Têrêsa nói rằng điều kiện tiên quyết để có thể cầu nguyện, là có một trái tim trong sáng, bởi vì chỉ với trái tim trong sáng, người ta mới có thể thấy Thiên chúa (Trang 60 ). Chắc hẳn khi nói thế, Mẹ nghỉ tới mối phúc thứ 6 : "Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa." (Mt 5,8). Sự trong sáng của tâm hồn cũng tựa như sự trơng sáng của một tấm gương. Gương hay kiếng, càng trong sáng thì càng phản ảnh rõ nét các sự vật. Một tâm hồn trong sáng là một tâm hồn phản ảnh hình ánh trung thực của Thiên Chúa đã mô phóng để tạo dựng nên chính con người (x. St 1,27). Nói cách khác, khi ta thực sự là ta, với một tâm hồn đơn sơ trong trắng, thì ai nhìn vào ta, sẽ có thể nhận ra hình ảnh sống động của Thiên Chúa. "Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha" (Ga 14,9), Đức Giêsu đa nói với ông Philipphê như vậy. Sở dĩ thế là vì Đức Giêsu là hình ảnh trung thực của Chúa Cha (x. Cl1,15)
Đối với người Kitô hữu, không có cái gì là chân thật nếu không được nhìn dưới ánh sáng của Thiên Cbúa. Hay nói cách khác, chỉ khi nhìn trong ánh sáng của Thiên Chúa chúng ta mới có thể nhận ra khuôn mặt thật của mình, như Thánh vịnh 36 nói : "Nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nhìn thấy ánh sáng" (36,10). Vì thế, Mẹ Têrêsa muốn được chìm ngập trong ánh sáng của Chúa, để những ai trông thấy Mẹ cầu nguyện với Chúa : "Lạy Chúa, xin làm sao để khi nhìn vào con, kẻ khác không còn nhìn thấy con, nhưng chỉ nhìn thấy Chúa mà thôi. Xin ở lại với con và lúc đó con sẽ bắt đầu chiếu toả như Chúa chiếu toả, và con sẽ bắt đầu chiếu toả như thế nào để trở thành ánh sáng cho kẻ khác". Thật vậy, một chiếc gương soi nhỏ bé, khi ta nhìn vào, thì sẽ chỉ còn thấy khuôn mặt của ta, chứ không còn thấy chiếc gương. Ta càng nhỏ bé, trong sáng, thì càng có cơ may phản ánh trọn vẹn khuôn mặt của Chúa.
Muốn trở nên tấm gương phản ánh khuôn mặt của Thiên Chúa, nhưng đồng thời Mẹ Têrêsa cũng luôn tìm kiếm khuôn mặt của Chúa nơi tha nhân, và nhất là nơi những người đau khổ. Mẹ cầu nguyện : "Lạy Chúa, xin mở rộng đôi mắt con, ngõ hầu con có thể nhìn thấy Chúa nơi những anh chị em con." (Ntr. Trg 16). Bởi vì "Thiên Chúa đã đồng hoá mình với những kẻ đói khát, đau yếu, trần truồng, không nhà cửa, không phải chỉ đói khát cơm bánh nhưng còn đói khát tình thương, đói khát sự chăm sóc, đói khát được tôn trọng, không những vì không có áo mặc, nhưng còn vì không có sự cảm thông, mà không mấy ai dành cho kẻ mình không quen biết; không nhà cửa, không những vì không có căn nhà che mưa che nắng, nhưng vì còn cảm thấy mình như kẻ không có nhà vì không có người nào đến tìm thăm." (Ntr. Trg. 17)
Nhưng chúng ta chỉ có thể nhận ra Chúa trong anh chị em chúng ta, nếu chúng ta có tâm hồn trong sáng, bởi vì khi ấy, thực ra không phải chúng ta nhìn thấy Chúa trong anh chị em mình, mà chính Chúa sống trong chúng ta nhận ra các anh chị em của Người ! Đó là ý nghĩa của lời thánh Phaolô mà Mẹ Têrêsa hiểu được : "Không phải là tôi sống mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi". Có thể nói, nếu Mẹ là Lão Tử, thì chắc Mẹ sẽ bảo rằng đó là "Vô Vi", còn nếu Mẹ là một thiền sư, thì Mẹ sẽ nói rằng đó là nước từ trời mưa xuống, đó là cơn gió mát từ phương Nam, đó là ánh sáng từ phương Đông, là hương thơm từ bông hoa. .chứ tôi có làm gì đâu !
Mẹ Têrêsa là như thế đó. Mẹ không là gì cả, mà chính Thiên Chúa là tất cả nơi Mẹ. Mẹ nói : "Bí quyết sống của tôi hết sức đơn sơ. Tôi cầu nguyện." (Mẹ Têrêsa …Trg. 8). Mà cầu nguyện, đối với Mẹ là : "Chúng ta chỉ có một lời cầu nguyện, rất chính xác và căn bản : đó là chính Đức Giêsu Kitô. Chỉ có một tiếng nói từ trái đất vọng lên trời : đó là tiếng Đức Giêsu Kitô. Cầu nguyện trước hết có nghĩa là nên một với Chúa Kitô." (Cầu nguyện. .Trg 9). Vì quan niệm cầu nguyện trước hết là kết hợp, là nên một với Chúa Kitô, nên Mẹ Têrêsa có thể nói : "Chúa Kitô cầu nguyện trong tôi, Chúa Kitô hoạt động nơi tôi, Chúa Kitô suy nghĩ trong tôi, Chúa Kitô nhìn với đôi mắt của tôi, Chúa Kitô nói với những lời nói của tôi, Chúa Kitô làm việc với đôi tay của tôi, bước đi với đôi chân của tôi, yêu thương với trái tim của tôi." (Cầu nguyện. .Trg 10)
Có thể nói con người của Mẹ Têrêsa, cuộc đời của Mẹ, chẳng có gì lạ lùng khó hiểu, trái lại con người ấy, cuộc đời ấy qua đơn sơ giản dị, đơn sơ giản dị tới mức chỉ cần một lời vắn tắt để nói về Mẹ : Têrêsa Calcutta là dấu chỉ, là "bí tích' hay hiện thân của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Tình Yêu. Như Mẹ nói với Chúa : "Lạy Cha là Cha của chúng con, này con đây là con cái Cha, con sẵn sàng để Cha sử dụng con để tiếp tục công trình yêu thương của Cha đối với thế giới, nhờ ân sủng mà Cha đã ban cho con, là chính Đức Giêsu, và Cha ban con đây cho mỗi một người khác trên thế giới, như một ân huệ." (Cầu nguyện. .Trg 11)
Như vậy có nghĩa là Mẹ tự nhận mình là "ân huệ mà Chúa ban cho mỗi một người trên thế giới".
Mẹ Têrêsa quả thật là một ân huệ Chúa ban cho thời đại chúng ta, cho thế giới hôm nay. Mẹ là như một giọt sương sa, là một cơn mưa nhẹ, một làn gió hiu hiu mà Thiên Chúa ban tặng cho thế giới đang mùa nắng hạn. Quả vậy, thời đại chúng ta đang rơi vào thời kỳ nắng hạn kô khan. Nhưng phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của khoa học và kỷ thuật đã làm biến lòng người thành máy móc, chỉ còn biết phản ứng theo chương trình cài đặt sẵn. Cái mà con người tìm đạt được ngày nay là vật chất, và con người được đánh giá theo chỉ số đồng tiền.
Nhân loại hôm nay đã đánh mất cái tâm của mình, nên không còn biết nhận ra giá trị của những gì không thể đánh giá bằng vàng bạc hay châu báu. Cái gì quí giá nhất truớc mặt Chúa chính là mỗi người chúng ta. MẹTêrêsa viết : " Mỗi một đứa trẻ đã được dựng nên, như bạn và tôi, cho một dự phòng lớn lao : đó là yêu thương và được yêu thương. Kinh Thánh ghi lại những lời của Chúa nói với ngôn sứ của Người : "Ta đã gọi con bằng tên con, con thuộc về Ta, con có giá trước mặt Ta, Ta yêu thương con," Điều đó có nghĩa là truớc mắt chính Thiên Chúa, chúng ta có giá trị, Người yêu thương và muốn được chúng ta yêu mến trở lại." (Cầu nguyện …Trg 16). Mỗi người chúng ta có giá trị trước mắt Chúa, không phải vì chúng ta là thế này hay thế nọ, hoặc vì chúng ta thánh thiện, tài giỏi, nhưng chỉ vì chúng ta là như thế đó. Mẹ Têrêsa viết : "Tất cả chúng ta đều có giá trước mắt Người : kẻ đang hấp hối trên đường phố quí giá đối với Người, kẻ triệu phú quí giá đới với Người; kể tội lỗi quí giá đối với Người. Bởi vì Người yêu chúng ta." (Ntr.) Vâng, bởi vì Người yêu chúng ta, chứ không phải vì chúng ta yêu mến Người (x.1 Ga 4,10). Nhưng chắc chắn rằng, đối với Mẹ Têrêsa, thì người nghèo khổ là người có giá nhất trước mắt Thiên Chúa, bởi vì - Những người không ai muốn, không ai thương, không ai săn sóc, những người khao khát tình thương, họ là Chúa Giêsu (…). Những người nghèo trong những căn nhà ổ chuột trên khắp thế giới là chính Đức Kitô đau khổ. Trong họ, Con Thiên Chúa đang sống và chết, và qua họ, Thiên Chúa cho thấy khuôn mặt thật của Người." (Cầu nguyện…Trg, 82-83)
Đó là lý do tại sao Mẹ Têrêsa từ bỏ tu viện ấm cúng nơi Mẹ đã sống trong bao năm trời, để đi lang thang tìm đến với những người hấp hối, những người bị bỏ rơi bên những lề đường phố Calcutta và trên khắp thế giới. Mẹ đã bỏ áo dòng đạo mạo thánh thiện, để khoác vào mình chiếc sa-ri của phụ nữ Ấn Độ. Mẹ đã bỏ căn phòng trong tu viện, để chính mình trở thành một mái ấm cho Chúa Kitô đau khổ, không nhà, không nơi nương tựa. Mẹ đã ra đi với hai bàn tay trắng, và chỉ với tình yêu thương bao la lớn hơn đôi bàn tay nhỏ bé của Mẹ. Mẹ nói : "Tiền bạc chỉ hữu ích khi đuợc dâng để trải rộng tình yêu của Chúa Kitô. Nó có thể được sử dụng để nuôi Đức Kitô đang đói. Tuy nhiên Người không chỉ đói cơm bánh, mà đói sự hiện diện của bạn, đói khát tình yêu của bạn. Để tặng một mái ấm cho Chúa Kitô không nhà, phải bắt đầu bằng việc làm cho nhà của chúng ta thành nơi của bình an, của hạnh phúc, của lòng bác ái dồi dào, nhờ tình thưong chúng ta dành cho mỗi thành phần trong gia đình, hay mỗi thành viên trong cộng đồng." (Cầu nguyện …Trg, 82)
Vâng, chính trái tim Mẹ Têrêsa đã trở thành ngôi nhà cho những kẻ hấp hối, những người đau khổ, không nhà, không người thân, tìm được mái ấm của tình thương để có thể mỉm cười nhắm mắt ra đi bình an, như Mẹ kể : "Có một lần ở Calcutta, chúng tôi nhặt được năm người đang chết, trong đó có một phụ nữ bị bệnh quá nặng. Tôi muốn ngồi với bà trong giờ phút cuối cùng. Tôi đặt tay tôi lên tay của bà. Bà tỉnh ra, nhìn tôi, không than đói, không than khát, chỉ mỉm cười và nói cảm ơn trước khi nhắm mắt lìa đời". (Mẹ Têrêsa. .Trg 6)
Tôi đặc biệt để ý tới hai chữ "bình an", hay "hoà bình" mà Mẹ Têrêsa nói tới Mẹ viết : "Đừng dùng bom và súng ca-nông để thắng thế giới. Hãy sử dụng tình yêu và sự cảm thương. Hoà bình khởi sự với một cười : hãy mỉm cười năm lần mỗi ngày với một người mà chúng thực sự không muốn mỉm cười chút nào cả. Hãy làm điều đó vì hoà bình. Hãy làm điều đó vì hoà bình của Thiên Chúa, hãy thấp lên ánh sáng của Người, hãy tắt đi mọi căm thù và sự ham mê quyền lực trong thế giới và trong mọi trái tim con người." ( Câù nguyện …Trg. 21)
Mẹ thật quả xứng đáng nhận Giải thưởng Nobel về Hoà Bình (1979), không phải vì đã giúp giải quyết được một cuộc chiến nào, mà vì đã đem lại niềm an ủi cho biết bao những con người cùng khổ, khiến họ có thể an bình ra đi với một nụ cười trên môi. Mẹ còn là sứ giả của tình yêu đã đem lại niềm vui cho chúng ta như Mẹ đã nói : "Một trái tim vui tươi là kết quả của một trái tim cháy lửa yêu mến", (Cầu nguyện …Trg. 21). Xim cảm ơn Mẹ.
OM SANTI ! Om Bình an !
Lời cầu nguyện truyền thống của người Ấn Độ có lẽ cũng đã là lời cầu nguỵên của Mẹ trong suốt cả cuộc đời.
Sau ngày đáng ghi nhớ đó, chúng tôi còn đuợc dịp đón tiếp Mẹ đến cùng dâng lễ với chúng tôi hai ba lần khác nữa.
Sau khi nghe tin Mẹ qua đời ngày 05 - 09 - 1997, ai cũng tin chắc chắn Mẹ sẽ sớm được "phong thánh". Và quả thật như vậy, chỉ sau 6 năm, ngày 19 - 10 - 2003 nay, Mẹ sẽ được Đức Gioan Phaolô II ghi danh vào sổ các Chân Phước của Giáo Hội Công Giáo. Mẹ đã phá mọi kỷ lực về thủ tục "phong thánh" mà chắc chắn không một ai phản đối.
Vì thế, nhân dịp nay, tôi muốn ghi lại đôi dòng về Mẹ. Nhưng thú thật rằng viết về Mẹ rất dễ, nhưng cũng lại rất khó. Dễ vì cuộc đời của Mẹ quá giản dị, chỉ gói ghém trong mấy chữ yêu thương người cùng khốn. Hay nói đúng hơn, Mẹ chỉ chó một danh hiệu là Bác Ái. Nhưng khó, bởi vì người ta không thể dùng ngôn ngữ hay tư tưởng để diễn tả cái đơn sơ giản dị, mà không có nguy cơ che khuất mất chính cái đơn sơ giản dị ấy, như kiểu những ngón tay muốn chỉ mặt trăng, nhưng vô tình lại có thể che khuất chính mặt trăng !
Vì vậy, trong bài nay, tôi cố gắng để Mẹ Têrêsa nói về mình, qua những lời Mẹ nói với Chúa.
* * *
Tôi tìm một tựa đề cho bài viết về Mẹ Têrêsa Calcutta, bằng cách đọc lại các tựa đề mà chính Mẹ đã đặt cho các bài viết của Mẹ về cầu nguyện, in trong cuốn cầu nguyện : Dòng suối mát trong , viết chung với Sư huynh Roger, mà tôi đã dịch ra tiếng Việt và xuất bản lần thứ nhất năm 1994, và vừa được tái bản, để mừng ngày Mẹ đuợc tôn vinh như một Chân Phúc của Giáo Hội Công Giáo. Đó là tựa đề bài viết số 9 trong tập sách nhỏ nói trên : Một trái tim trong sáng.
Các nhà hiền triết, các bậc thánh nhân, nói chung thường giống nhau ở một điểm : họ có một tâm hồn đơn sơ trong sáng, nghĩa là có sao thì tỏ ra như vậy, không tìm cách tỏ ra thế này thế khác, không những chẳng làm dáng làm điệu, mà còn không che đậy những khiếm khuyết của mình về thể xác cũng như tâm hồn. Tóm lại, sự trong sáng ở đây đồng nghĩa với đơn sơ, chân thật, tới mức có thể bị coi là "ngố", đặc biệt là trong thế giới ngày càng giả tạo của chúng ta hiện nay : nào là son phấn, áo quần theo mốt, hợp thời trang, cử chỉ điệu bộ hợp với địa vị trong xã hội hay Giáo hội..Nói tóm lại, các ngài là những người mộc mạc, không có lấy một lớp vẹc -ni đánh bóng, mà chỉ thực sự nguyên vẹn là mình.
Mẹ Têrêsa nói rằng điều kiện tiên quyết để có thể cầu nguyện, là có một trái tim trong sáng, bởi vì chỉ với trái tim trong sáng, người ta mới có thể thấy Thiên chúa (Trang 60 ). Chắc hẳn khi nói thế, Mẹ nghỉ tới mối phúc thứ 6 : "Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa." (Mt 5,8). Sự trong sáng của tâm hồn cũng tựa như sự trơng sáng của một tấm gương. Gương hay kiếng, càng trong sáng thì càng phản ảnh rõ nét các sự vật. Một tâm hồn trong sáng là một tâm hồn phản ảnh hình ánh trung thực của Thiên Chúa đã mô phóng để tạo dựng nên chính con người (x. St 1,27). Nói cách khác, khi ta thực sự là ta, với một tâm hồn đơn sơ trong trắng, thì ai nhìn vào ta, sẽ có thể nhận ra hình ảnh sống động của Thiên Chúa. "Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha" (Ga 14,9), Đức Giêsu đa nói với ông Philipphê như vậy. Sở dĩ thế là vì Đức Giêsu là hình ảnh trung thực của Chúa Cha (x. Cl1,15)
Đối với người Kitô hữu, không có cái gì là chân thật nếu không được nhìn dưới ánh sáng của Thiên Cbúa. Hay nói cách khác, chỉ khi nhìn trong ánh sáng của Thiên Chúa chúng ta mới có thể nhận ra khuôn mặt thật của mình, như Thánh vịnh 36 nói : "Nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nhìn thấy ánh sáng" (36,10). Vì thế, Mẹ Têrêsa muốn được chìm ngập trong ánh sáng của Chúa, để những ai trông thấy Mẹ cầu nguyện với Chúa : "Lạy Chúa, xin làm sao để khi nhìn vào con, kẻ khác không còn nhìn thấy con, nhưng chỉ nhìn thấy Chúa mà thôi. Xin ở lại với con và lúc đó con sẽ bắt đầu chiếu toả như Chúa chiếu toả, và con sẽ bắt đầu chiếu toả như thế nào để trở thành ánh sáng cho kẻ khác". Thật vậy, một chiếc gương soi nhỏ bé, khi ta nhìn vào, thì sẽ chỉ còn thấy khuôn mặt của ta, chứ không còn thấy chiếc gương. Ta càng nhỏ bé, trong sáng, thì càng có cơ may phản ánh trọn vẹn khuôn mặt của Chúa.
Muốn trở nên tấm gương phản ánh khuôn mặt của Thiên Chúa, nhưng đồng thời Mẹ Têrêsa cũng luôn tìm kiếm khuôn mặt của Chúa nơi tha nhân, và nhất là nơi những người đau khổ. Mẹ cầu nguyện : "Lạy Chúa, xin mở rộng đôi mắt con, ngõ hầu con có thể nhìn thấy Chúa nơi những anh chị em con." (Ntr. Trg 16). Bởi vì "Thiên Chúa đã đồng hoá mình với những kẻ đói khát, đau yếu, trần truồng, không nhà cửa, không phải chỉ đói khát cơm bánh nhưng còn đói khát tình thương, đói khát sự chăm sóc, đói khát được tôn trọng, không những vì không có áo mặc, nhưng còn vì không có sự cảm thông, mà không mấy ai dành cho kẻ mình không quen biết; không nhà cửa, không những vì không có căn nhà che mưa che nắng, nhưng vì còn cảm thấy mình như kẻ không có nhà vì không có người nào đến tìm thăm." (Ntr. Trg. 17)
Nhưng chúng ta chỉ có thể nhận ra Chúa trong anh chị em chúng ta, nếu chúng ta có tâm hồn trong sáng, bởi vì khi ấy, thực ra không phải chúng ta nhìn thấy Chúa trong anh chị em mình, mà chính Chúa sống trong chúng ta nhận ra các anh chị em của Người ! Đó là ý nghĩa của lời thánh Phaolô mà Mẹ Têrêsa hiểu được : "Không phải là tôi sống mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi". Có thể nói, nếu Mẹ là Lão Tử, thì chắc Mẹ sẽ bảo rằng đó là "Vô Vi", còn nếu Mẹ là một thiền sư, thì Mẹ sẽ nói rằng đó là nước từ trời mưa xuống, đó là cơn gió mát từ phương Nam, đó là ánh sáng từ phương Đông, là hương thơm từ bông hoa. .chứ tôi có làm gì đâu !
Mẹ Têrêsa là như thế đó. Mẹ không là gì cả, mà chính Thiên Chúa là tất cả nơi Mẹ. Mẹ nói : "Bí quyết sống của tôi hết sức đơn sơ. Tôi cầu nguyện." (Mẹ Têrêsa …Trg. 8). Mà cầu nguyện, đối với Mẹ là : "Chúng ta chỉ có một lời cầu nguyện, rất chính xác và căn bản : đó là chính Đức Giêsu Kitô. Chỉ có một tiếng nói từ trái đất vọng lên trời : đó là tiếng Đức Giêsu Kitô. Cầu nguyện trước hết có nghĩa là nên một với Chúa Kitô." (Cầu nguyện. .Trg 9). Vì quan niệm cầu nguyện trước hết là kết hợp, là nên một với Chúa Kitô, nên Mẹ Têrêsa có thể nói : "Chúa Kitô cầu nguyện trong tôi, Chúa Kitô hoạt động nơi tôi, Chúa Kitô suy nghĩ trong tôi, Chúa Kitô nhìn với đôi mắt của tôi, Chúa Kitô nói với những lời nói của tôi, Chúa Kitô làm việc với đôi tay của tôi, bước đi với đôi chân của tôi, yêu thương với trái tim của tôi." (Cầu nguyện. .Trg 10)
Có thể nói con người của Mẹ Têrêsa, cuộc đời của Mẹ, chẳng có gì lạ lùng khó hiểu, trái lại con người ấy, cuộc đời ấy qua đơn sơ giản dị, đơn sơ giản dị tới mức chỉ cần một lời vắn tắt để nói về Mẹ : Têrêsa Calcutta là dấu chỉ, là "bí tích' hay hiện thân của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Tình Yêu. Như Mẹ nói với Chúa : "Lạy Cha là Cha của chúng con, này con đây là con cái Cha, con sẵn sàng để Cha sử dụng con để tiếp tục công trình yêu thương của Cha đối với thế giới, nhờ ân sủng mà Cha đã ban cho con, là chính Đức Giêsu, và Cha ban con đây cho mỗi một người khác trên thế giới, như một ân huệ." (Cầu nguyện. .Trg 11)
Như vậy có nghĩa là Mẹ tự nhận mình là "ân huệ mà Chúa ban cho mỗi một người trên thế giới".
Mẹ Têrêsa quả thật là một ân huệ Chúa ban cho thời đại chúng ta, cho thế giới hôm nay. Mẹ là như một giọt sương sa, là một cơn mưa nhẹ, một làn gió hiu hiu mà Thiên Chúa ban tặng cho thế giới đang mùa nắng hạn. Quả vậy, thời đại chúng ta đang rơi vào thời kỳ nắng hạn kô khan. Nhưng phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của khoa học và kỷ thuật đã làm biến lòng người thành máy móc, chỉ còn biết phản ứng theo chương trình cài đặt sẵn. Cái mà con người tìm đạt được ngày nay là vật chất, và con người được đánh giá theo chỉ số đồng tiền.
Nhân loại hôm nay đã đánh mất cái tâm của mình, nên không còn biết nhận ra giá trị của những gì không thể đánh giá bằng vàng bạc hay châu báu. Cái gì quí giá nhất truớc mặt Chúa chính là mỗi người chúng ta. MẹTêrêsa viết : " Mỗi một đứa trẻ đã được dựng nên, như bạn và tôi, cho một dự phòng lớn lao : đó là yêu thương và được yêu thương. Kinh Thánh ghi lại những lời của Chúa nói với ngôn sứ của Người : "Ta đã gọi con bằng tên con, con thuộc về Ta, con có giá trước mặt Ta, Ta yêu thương con," Điều đó có nghĩa là truớc mắt chính Thiên Chúa, chúng ta có giá trị, Người yêu thương và muốn được chúng ta yêu mến trở lại." (Cầu nguyện …Trg 16). Mỗi người chúng ta có giá trị trước mắt Chúa, không phải vì chúng ta là thế này hay thế nọ, hoặc vì chúng ta thánh thiện, tài giỏi, nhưng chỉ vì chúng ta là như thế đó. Mẹ Têrêsa viết : "Tất cả chúng ta đều có giá trước mắt Người : kẻ đang hấp hối trên đường phố quí giá đối với Người, kẻ triệu phú quí giá đới với Người; kể tội lỗi quí giá đối với Người. Bởi vì Người yêu chúng ta." (Ntr.) Vâng, bởi vì Người yêu chúng ta, chứ không phải vì chúng ta yêu mến Người (x.1 Ga 4,10). Nhưng chắc chắn rằng, đối với Mẹ Têrêsa, thì người nghèo khổ là người có giá nhất trước mắt Thiên Chúa, bởi vì - Những người không ai muốn, không ai thương, không ai săn sóc, những người khao khát tình thương, họ là Chúa Giêsu (…). Những người nghèo trong những căn nhà ổ chuột trên khắp thế giới là chính Đức Kitô đau khổ. Trong họ, Con Thiên Chúa đang sống và chết, và qua họ, Thiên Chúa cho thấy khuôn mặt thật của Người." (Cầu nguyện…Trg, 82-83)
Đó là lý do tại sao Mẹ Têrêsa từ bỏ tu viện ấm cúng nơi Mẹ đã sống trong bao năm trời, để đi lang thang tìm đến với những người hấp hối, những người bị bỏ rơi bên những lề đường phố Calcutta và trên khắp thế giới. Mẹ đã bỏ áo dòng đạo mạo thánh thiện, để khoác vào mình chiếc sa-ri của phụ nữ Ấn Độ. Mẹ đã bỏ căn phòng trong tu viện, để chính mình trở thành một mái ấm cho Chúa Kitô đau khổ, không nhà, không nơi nương tựa. Mẹ đã ra đi với hai bàn tay trắng, và chỉ với tình yêu thương bao la lớn hơn đôi bàn tay nhỏ bé của Mẹ. Mẹ nói : "Tiền bạc chỉ hữu ích khi đuợc dâng để trải rộng tình yêu của Chúa Kitô. Nó có thể được sử dụng để nuôi Đức Kitô đang đói. Tuy nhiên Người không chỉ đói cơm bánh, mà đói sự hiện diện của bạn, đói khát tình yêu của bạn. Để tặng một mái ấm cho Chúa Kitô không nhà, phải bắt đầu bằng việc làm cho nhà của chúng ta thành nơi của bình an, của hạnh phúc, của lòng bác ái dồi dào, nhờ tình thưong chúng ta dành cho mỗi thành phần trong gia đình, hay mỗi thành viên trong cộng đồng." (Cầu nguyện …Trg, 82)
Vâng, chính trái tim Mẹ Têrêsa đã trở thành ngôi nhà cho những kẻ hấp hối, những người đau khổ, không nhà, không người thân, tìm được mái ấm của tình thương để có thể mỉm cười nhắm mắt ra đi bình an, như Mẹ kể : "Có một lần ở Calcutta, chúng tôi nhặt được năm người đang chết, trong đó có một phụ nữ bị bệnh quá nặng. Tôi muốn ngồi với bà trong giờ phút cuối cùng. Tôi đặt tay tôi lên tay của bà. Bà tỉnh ra, nhìn tôi, không than đói, không than khát, chỉ mỉm cười và nói cảm ơn trước khi nhắm mắt lìa đời". (Mẹ Têrêsa. .Trg 6)
Tôi đặc biệt để ý tới hai chữ "bình an", hay "hoà bình" mà Mẹ Têrêsa nói tới Mẹ viết : "Đừng dùng bom và súng ca-nông để thắng thế giới. Hãy sử dụng tình yêu và sự cảm thương. Hoà bình khởi sự với một cười : hãy mỉm cười năm lần mỗi ngày với một người mà chúng thực sự không muốn mỉm cười chút nào cả. Hãy làm điều đó vì hoà bình. Hãy làm điều đó vì hoà bình của Thiên Chúa, hãy thấp lên ánh sáng của Người, hãy tắt đi mọi căm thù và sự ham mê quyền lực trong thế giới và trong mọi trái tim con người." ( Câù nguyện …Trg. 21)
Mẹ thật quả xứng đáng nhận Giải thưởng Nobel về Hoà Bình (1979), không phải vì đã giúp giải quyết được một cuộc chiến nào, mà vì đã đem lại niềm an ủi cho biết bao những con người cùng khổ, khiến họ có thể an bình ra đi với một nụ cười trên môi. Mẹ còn là sứ giả của tình yêu đã đem lại niềm vui cho chúng ta như Mẹ đã nói : "Một trái tim vui tươi là kết quả của một trái tim cháy lửa yêu mến", (Cầu nguyện …Trg. 21). Xim cảm ơn Mẹ.
OM SANTI ! Om Bình an !
Lời cầu nguyện truyền thống của người Ấn Độ có lẽ cũng đã là lời cầu nguỵên của Mẹ trong suốt cả cuộc đời.