SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân
Nhà Xuất Bản Ignatius Press San Francisco
PHẦN II Nguồn gốc của Lạm dụng Tình dục bởi Giáo sĩ
Chương 10. Vai trò của Cách mạng Tình dục(tiếp theo)
Biện minh cho quan hệ tình dục giữa đàn ông và trẻ em trai
Sự phẫn nộ đón nhận tin tức về vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ là điều mà mọi người đều chia sẻ, mặc dù một số người hoàn toàn không chân thành. Một người chân thành sẽ không biện minh cho hành vi quan hệ tình dục giữa đàn ông và trẻ em nhưng lại phàn nàn khi kẻ gây hại là một linh mục. Ai lại làm điều như vậy? Chủ yếu là những người da trắng có học thức cao, tự xưng là người theo chủ nghĩa tự do, nhiều người trong số họ ghét giáo lý của Giáo hội về tình dục nhưng lại trắng trợn biện minh cho ấu dâm. Đó là một ví dụ về Tai tiếng II ở dạng cực đoan nhất. Tình trạng kỳ lạ này không thể tách rời khỏi cuộc cách mạng tình dục và giúp giải thích tại sao những linh mục bệnh hoạn nhất lại có thể tìm thấy sự an ủi trong tình trạng của họ.
Vào ngày 31 tháng 10 năm 2013, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) đã đưa ra một tuyên bố nói rằng “ấu dâm là một rối loạn tâm thần” và rằng “quan hệ tình dục giữa người lớn và trẻ em luôn luôn sai trái.” (56) Tại sao một nhóm các chuyên gia được kính trọng lại phải đưa ra một tuyên bố tầm thường như vậy? Bởi vì nó bị ép buộc.
Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ vẫn đang chao đảo vì hậu quả về quan hệ công chúng của một bài báo được xuất bản năm 1998 trên Tạp chí Tâm lý học của họ. Các tác giả cho rằng việc kết luận rằng tất cả các mối quan hệ tình dục giữa người lớn và trẻ vị thành niên đều có tác động tiêu cực là sai lầm; nhiều nạn nhân cho biết họ có những tác động trung tính hoặc thậm chí tích cực. Các nhà nghiên cứu khuyến nghị nên gọi ấu dâm là “quan hệ tình dục giữa người lớn và trẻ em” để nó “trung lập về giá trị”. (57) Do đó, họ đã gây ra sự lo ngại ở một số nơi. Những người khác lại thích những gì họ nghe được. Ví dụ, NAMBLA, tổ chức ủng hộ quan hệ tình dục giữa đàn ông và trẻ em, đã coi đó là “tin tốt”, như nhà xã hội học Anne Hendershott đã lưu ý. (58) Hai trí thức đồng tính nổi tiếng, Andrew Sullivan và Jonathan Rauch, cũng lên tiếng, nhưng họ hướng sự tức giận của mình vào những người chỉ trích nghiên cứu. Sullivan nói rằng “có lý do để nhẹ nhõm” khi biết được từ nghiên cứu rằng “chấn thương tâm lý kéo dài ở những người trưởng thành sống sót sau lạm dụng, đặc biệt là nam giới, ít hơn nhiều so với lo sợ”. Rauch khuyến nghị chúng ta nên bỏ các từ ngữ liên quan đến “lạm dụng” khi nói về điều mà ông thích gọi là “quan hệ tình dục giữa người lớn và trẻ em” hoặc “quan hệ tình dục giữa người lớn và thanh thiếu niên”. (59) Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ có thể tin rằng quan hệ tình dục giữa người lớn và trẻ vị thành niên là sai trái, nhưng bằng cách xuất bản bài báo này, họ đã tạo ra vẻ ngoài bao che cho nó. Sự thật đáng buồn là quan hệ tình dục giữa đàn ông và trẻ em trai có những người theo đuổi, tiếp tay và thực hành, và không nhóm nào tai tiếng hơn NAMBLA.
“NAMBLA cho rằng tình dục là tốt, rằng đồng tính luyến ái không chỉ tốt cho người lớn mà còn tốt cho cả thanh thiếu niên.” Đó là cách David Thorstad, người phát ngôn của NAMBLA, đã nói trong những năm đầu thành lập hiệp hội. (60) Khẩu hiệu của họ, “Tám tuổi là quá muộn”, giải thích ngắn gọn sứ mệnh của NAMBLA. Điều quan trọng cần lưu ý là trong khi có những người dị tính lạm dụng trẻ em, thì không có tổ chức nào tương tự như NAMBLA trong hàng ngũ của họ. Điều này là độc nhất vô nhị đối với người đồng tính.
NAMBLA có được chấp nhận trong cộng đồng người đồng tính không? Có và không. Vào dịp kỷ niệm 25 năm cuộc bạo loạn Stonewall—khi những người đồng tính đụng độ với cảnh sát ở Greenwich Village—đã có hai cuộc diễu hành tự hào đồng tính ở thành phố New York. Tôi đã tham dự cả hai sự kiện và thuê một nhiếp ảnh gia để chụp ảnh. Cuộc tuần hành quốc tế tới Liên Hợp Quốc để khẳng định nhân quyền của người đồng tính nữ và đồng tính nam đã từ chối cho phép NAMBLA diễu hành cùng họ trên Đại lộ số 1. Cuộc diễu hành của họ diễn ra rất trật tự. Nhưng NAMBLA lại được phép diễu hành trên Đại lộ số 5 trong một sự kiện khác gồm các nhóm đồng tính luyến ái cực đoan hơn. Hàng ngàn người tham gia, nhiều người diễu hành hoàn toàn khỏa thân trong một cuộc diễu hành bất hợp pháp (họ bị từ chối cấp phép—nhưng vẫn được cảnh sát hộ tống bằng xe máy), và một số người thủ dâm trên đường phố trước Nhà thờ Thánh Patrick trong khi những người khác nhảy múa theo điệu nhạc ma quỷ. Tôi đã cho các quan chức thành phố New York xem những bức ảnh đó, và họ đã can thiệp vào năm sau để lập lại trật tự.
Hoà Lan có một tổ chức tương tự như NAMBLA gọi là Vereniging Martijn. Tổ chức này cũng ủng hộ việc hợp pháp hóa ấu dâm; cả NAMBLA và Vereniging Martijn đều có nhiều linh mục tham gia. Những nhóm này cho rằng quan hệ tình dục giữa đàn ông và trẻ em trai có thể thú vị cho cả hai bên. (61) Paul Shanley thậm chí còn đi xa đến mức nói rằng “đứa trẻ là kẻ quyến rũ” và “đứa trẻ” này hoàn toàn không bị tổn thương bởi quan hệ tình dục giữa đàn ông và trẻ em trai. (62) Geoghan lại có cách tiếp cận hơi khác. Theo các phóng viên của tờ Boston Globe, câu trả lời tiêu chuẩn của ông về tội hiếp dâm trẻ em là,
“Đó là lỗi của trẻ em.” (63)
Sẽ là một chuyện khác nếu những quan điểm như vậy chỉ giới hạn ở những người đồng tính luyến ái cực đoan và các linh mục rối loạn tâm thần, nhưng thực tế không phải vậy. Các nhà trị liệu được kính trọng đã tập hợp lại để bình thường hóa quan hệ tình dục giữa đàn ông và trẻ em trai, và những người ủng hộ nó bao gồm các nhà hoạt động, người nổi tiếng và học giả. Tất cả những người ủng hộ này đều cưỡi trên làn sóng của cuộc cách mạng tình dục, và một số người trong số họ đã đạt đến đỉnh cao trong Giáo Hội Công Giáo.
Nếu Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ cảm thấy e ngại khi áp dụng từ vựng “trung lập về giá trị” của các tác giả đã xuất bản về tình dục giữa người lớn và trẻ vị thành niên, thì có một tổ chức khác gồm các nhà trị liệu chuyên nghiệp thích nói bằng ngôn ngữ nhẹ nhàng hơn. B₄-ACT là một hiệp hội gồm các bác sĩ tâm thần và những người khác trong lĩnh vực trị liệu, những người bác bỏ các thuật ngữ như "quan hệ tình dục giữa đàn ông và trẻ em" và "ấu dâm". Họ thích nói về sự hấp dẫn đối với trẻ vị thành niên. Những người bị thu hút tình dục bởi trẻ em hoặc thanh thiếu niên (MAPs). Đây là những người trưởng thành bị hấp dẫn tình dục bởi trẻ em hoặc thanh thiếu niên (hầu hết đều là nam giới). Một số MAPs đã quan hệ tình dục với trẻ em, và những người khác chỉ tưởng tượng về điều đó. Chúng ta được cho biết rằng phần còn lại của dân số mới là vấn đề: MAPs phải chịu đựng sự kỳ thị, xấu hổ và sợ hãi. (64)
Tại một hội nghị B₄-ACT được tổ chức vào năm 2011, các bác sĩ tâm thần từ những nơi danh tiếng như Harvard, Johns Hopkins và Trường Kinh tế London đã tập hợp lại để chỉ trích Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ vì đã tuyên bố ấu dâm là một bệnh tâm thần. Tại sự kiện này, các diễn giả đã nêu rõ lập trường của họ: “Chúng ta không bắt buộc phải can thiệp hoặc kìm hãm tình dục của trẻ em”; “Trẻ em không nhất thiết không có khả năng đồng ý” quan hệ tình dục với người lớn; “Ham muốn quan hệ tình dục với trẻ em của người lớn là ‘bình thường’”; và “Đa số những kẻ ấu dâm đều hiền lành và có lý trí.” (65)
Tiến sĩ Fred Berlin, bác sĩ tâm thần cho rằng việc tố cáo những kẻ xâm hại trẻ em là sai (hãy nhớ rằng ông là cố vấn cho các giám mục tại hội nghị Dallas), đã có bài phát biểu khai mạc. Ông tự hào khi có mặt ở đó. “Tôi muốn hoàn toàn ủng hộ mục tiêu của B₄-ACT”, ông nói. (66) Berlin lập luận rằng chúng ta nên đối xử với những kẻ xâm hại trẻ em giống như cách chúng ta đối xử với những người lái xe say rượu: giúp đỡ họ và không phụ thuộc vào các giải pháp pháp lý. Các nhà phê bình bảo thủ cáo buộc Berlin đang cố gắng bình thường hóa việc hiếp dâm trẻ em (không có người theo chủ nghĩa tự do nào chỉ trích ông), buộc các quan chức tại Đại học Johns Hopkins phải đưa ra một tuyên bố nói rằng ông phát biểu thay mặt cá nhân, chứ không phải thay mặt trường đại học. (67)
B₄-ACT có thể tương đối mới, nhưng ý tưởng cho rằng quan hệ tình dục giữa người lớn và trẻ em là được chấp nhận thì không phải vậy. Alfred Kinsey đã nhận thấy đó là một phương pháp nghiên cứu hoàn toàn có thể chấp nhận được để thu thập dữ liệu từ những người đàn ông trưởng thành đã kích thích tình dục trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Ông đã ghi chép lại những trường hợp trẻ sơ sinh và bé trai “trải nghiệm” cực khoái, theo dõi số lượng và thời gian cực khoái của chúng. Một trong những đối tượng bị lạm dụng tình dục của ông mới hai tháng tuổi; hai mươi tám trường hợp dưới một tuổi. (68)
Các nhà hoạt động vì quyền của người đồng tính từ lâu đã biện minh cho quan hệ tình dục giữa đàn ông và trẻ em trai. Harry Hay được một số người coi là người sáng lập phong trào quyền của người đồng tính. Ông không chỉ tán thành quan hệ tình dục giữa người lớn và trẻ vị thành niên; ông còn nói rằng những chàng trai trẻ sẽ thích điều đó. Ông nói: “Nếu cha mẹ và bạn bè của người đồng tính thực sự là bạn của người đồng tính, họ sẽ biết từ những đứa con đồng tính của mình rằng mối quan hệ với một người đàn ông lớn tuổi chính là điều mà những đứa trẻ mười ba, mười bốn và mười lăm tuổi cần hơn bất cứ điều gì khác trên thế giới.” (69) Đương nhiên, Hay cũng là một người hâm mộ NAMBLA. (70)
Larry Kramer, một người ủng hộ khác của quyền của người đồng tính, lập luận rằng trẻ em thích quan hệ tình dục với người lớn. “Trong những trường hợp trẻ em quan hệ tình dục với người lớn đồng tính… tôi cho rằng thường thì, rất thường xuyên, đứa trẻ mong muốn hành vi đó, và thậm chí có thể chủ động đề nghị, hoặc vì sự tò mò tự nhiên… hoặc vì đứa trẻ đó là người đồng tính và bẩm sinh biết điều đó.” (71) Đây là quan điểm của Paul Shanley.
Không thiếu những người nổi tiếng ủng hộ ấu dâm, bao gồm cả những kẻ hiếp dâm trẻ em. Roman Polanski là một kẻ ấu dâm bị kết án—hắn đã đánh thuốc mê và cưỡng hiếp một bé gái mười ba tuổi—nhưng hắn vẫn được những người trong ngành kỹ nghệ điện ảnh như Cate Blanchett (cô đặt tên một trong những con trai của mình theo tên hắn), Martin Scorsese, Meryl Streep, Harrison Ford, Penelope Cruz, Whoopi Goldberg, Harvey Weinstein và Woody Allen yêu mến. (72) Nếu Polanski là một linh mục, họ sẽ lên án hắn. Điều này cho chúng ta thấy rằng đối với một số người, điều quan trọng không phải là nạn nhân: mà là danh tính của kẻ gây hại.
Khi Michael Jackson bị cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em trong bộ phim tài liệu Leaving Neverland, Barbara Streisand đã vội vàng bảo vệ ông: “Nhu cầu tình dục của anh ấy là nhu cầu tình dục của riêng anh ấy, xuất phát từ tuổi thơ hay DNA của anh ấy.” Bà đặt dấu ngoặc kép quanh từ “lạm dụng”, như thể muốn nói rằng những đứa trẻ thực sự không bị lạm dụng. “Bạn có thể nói ‘lạm dụng’, nhưng những đứa trẻ đó, như bạn đã nghe, chúng rất vui mừng khi được ở đó.” (73) Sau đó, bà đã xin lỗi, mặc dù Jackson được tuyên bố vô tội đối với những cáo buộc chống lại ông. Năm 1999, Elton John đã khiến đám đông ở London kinh ngạc khi ông vinh danh một nhóm bảo vệ quyền của người đồng tính bằng cách đưa vào màn trình diễn của mình sáu vũ công thoát y tuổi teen mặc trang phục Hướng đạo sinh.(74) Bốn năm sau, ông lên tiếng bảo vệ Pete Townshend sau khi nhạc sĩ này thừa nhận đã truy cập vào nội dung khiêu dâm trẻ em: “Tôi yêu Pete và tôi luôn nghĩ về anh ấy.” (75) Một người hâm mộ nội dung khiêu dâm trẻ em khác, Pee-wee Herman, đã được ngôi sao của Friends, Courteney Cox Arquette và chồng cô, David Arquette, hết lòng bảo vệ.(76)
Nhiều trí thức cũng đã bảo vệ những điều không thể bào chữa. Tờ New Republic là một nguồn tư tưởng tự do quan trọng, vì vậy khi Hanna Rosin viết một cách cảm thông về NAMBLA, nói rằng có “một chút dũng cảm” trong quyết định liệt kê số điện thoại của họ trong danh bạ New York, bà đã nói thay cho nhiều người hơn. Tại sao điều này lại dũng cảm đến vậy? Bởi vì, bà nói, “ngay cả việc xem xét tính hợp pháp của cảm xúc của họ cũng vẫn là điều dị giáo.” (77) Tờ New York Times cũng có cùng quan điểm. Khi Peter Melzer, một lãnh đạo của NAMBLA, bị cách chức khỏi vị trí giảng dạy tại trường công lập thành phố New York rồi được phục chức, tờ Times, vốn luôn lên án các giám mục, đã hoan nghênh sự trở lại của ông. Hilton Kramer coi đây là một ví dụ điển hình về điều mà Daniel Patrick Moynihan mô tả là “hạ thấp định nghĩa về sự lệch lạc”.(78) NAMBLA cũng đã nhận được sự ủng hộ của các trí thức đồng tính nổi tiếng như Gore Vidal và Allen Ginsberg. (79) Camille Paglia nói rằng bà ngưỡng mộ “lập trường ủng hộ NAMBLA” của Ginsberg. (80)
Các trí thức thường không thích những điều cấm kỵ về tình dục. Ví dụ, nhà nữ quyền Andrea Dworkin nói rằng chúng ta cần loại bỏ “điều cấm kỵ loạn luân”. (81) Tác giả Judith Levine đã viết một cuốn sách về những điều cấm kỵ tình dục nói chung, cho rằng chúng ta cần phải phát triển trong tư duy của mình. Bà viết: “Ở nước Mỹ ngày nay, gần như không thể xuất bản một cuốn sách nói rằng trẻ em và thanh thiếu niên có thể có khoái cảm tình dục và cũng an toàn.” Bà thừa nhận rằng bà đã quan hệ tình dục với một người lớn khi còn nhỏ và có một số lời khuyên cho tất cả chúng ta. “Thanh thiếu niên thường tìm kiếm quan hệ tình dục với người lớn tuổi hơn, và họ làm vậy vì những lý do dễ hiểu: người lớn tuổi hơn khiến họ cảm thấy gợi cảm và trưởng thành, được bảo vệ và đặc biệt.” Bà cũng nói rằng khi một linh mục quan hệ tình dục với một người trẻ tuổi, mối quan hệ tình dục đó “có thể” là tích cực, mặc dù sau đó bà đã rút lại quan điểm đó sau khi một làn sóng phẫn nộ nổ ra vì nhận xét của bà. (82)
Một số trí thức châu Âu đã nói những điều tương tự. Colm Tóibín, một tác giả đồng tính luyến ái từng học tại một chủng viện ở Ái Nhĩ Lan, cho biết rằng ở tuổi 15 và 16, ông “thấy một số linh mục hấp dẫn về mặt tình dục”, và nếu một trong số họ cố gắng quyến rũ ông, “thì ở tuổi 15, điều đó hoàn toàn không thành vấn đề đối với tôi. Điều đó đã không xảy ra, nhưng nó sẽ không phải là vấn đề.” (83) Nhà vô thần người Anh Richard Dawkins thừa nhận rằng khi ông học ở trường nội trú, một trong những giáo viên nam của ông “đã kéo tôi lên đùi và cho tay vào trong quần short của tôi.” Giáo viên đó cũng đã quấy rối tình dục các học sinh khác. “Tôi không nghĩ ông ta đã gây ra bất cứ tổn hại lâu dài nào cho chúng tôi”, Dawkins nói, và ông ta thích phân loại những vụ việc như vậy là “ấu dâm nhẹ”. (84)
Không quốc gia nào nổi tiếng hơn Pháp trong việc bảo vệ mạnh mẽ hành vi quan hệ tình dục giữa người lớn và trẻ em. Năm 2020, một cuộc tranh cãi nổ ra khi một trong nhiều nạn nhân của Gabriel Matzneff, khi đó 83 tuổi, xuất bản một cuốn sách về những trải nghiệm của mình. Ông ta chưa bao giờ cố gắng phủ nhận việc mình đã quan hệ tình dục với các bé trai và bé gái ở độ tuổi thiếu niên hoặc thậm chí nhỏ hơn. Ông ta cũng thừa nhận đã quan hệ tình dục với các bé trai 8 tuổi ở Philippines. (85) Thật vậy, ông ta đã viết nhiều cuốn sách về những hành vi tình dục của mình và sẵn sàng trả lời phỏng vấn trên truyền hình, khoe khoang về chúng. Ông ta không những không bao giờ phải ngồi tù; ông ta còn nhận được sự tán dương của giới văn chương trong nhiều thập niên. Và ông ta chưa bao giờ tỏ ra hối hận, ngay cả khi một số người ở Pháp bắt đầu quay lưng lại với ông ta. (86) Khi một trong những nạn nhân của ông ta, Francesca Gee, tìm kiếm nhà xuất bản cho câu chuyện của mình kể chi tiết về việc ông ta đã lạm dụng cô như thế nào khi cô còn là một thiếu niên, không ai quan tâm. Biên tập viên của một nhà xuất bản cho biết chủ đề này “quá nhạy cảm” và hai thành viên trong ban biên tập của ông “thân thiết với Matzneff”. (87)
Matzneff đã hưởng lợi rất nhiều từ cuộc cách mạng xã hội năm 1968. Khẩu hiệu phổ biến vào thời điểm đó, “Cấm cấm đoán”, đã được ông sử dụng rất hiệu quả. Ông ủng hộ việc hợp pháp hóa quan hệ tình dục với trẻ em, nói rằng, “Quan hệ tình dục với một đứa trẻ là một trải nghiệm thiêng liêng, một sự kiện rửa tội, một cuộc phiêu lưu thần thánh.” Ông đã nhận được sự tán thưởng của những người khổng lồ về trí tuệ như Michel Foucault, Roland Barthes, JeanPaul Sartre và Simone de Beauvoir, tất cả đều có lối sống tình dục phóng túng. (88) Foucault là một kẻ săn mồi đồng tính luyến ái đã biện minh cho việc cưỡng hiếp, còn Barthes, Sartre và de Beauvoir chủ trương loại bỏ tất cả các luật cấm quan hệ tình dục giữa người lớn và trẻ em. (89)
Vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ xảy ra do các linh mục đồng tính luyến ái săn mồi và các giám mục dung túng cho họ. Nhưng họ không sống trong một môi trường xã hội biệt lập. Cuộc cách mạng tình dục diễn ra ở các xã hội phương Tây đã thổi bùng sức mạnh vào Giáo hội. Thay vì chống lại nó, quá nhiều người trong Giáo hội đã khuất phục trước nó. Mặc dù Giáo hội đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc ngăn chặn lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên bởi các giáo sĩ Công Giáo, nhưng ở một số giới bên ngoài Giáo hội, việc tôn vinh chủ nghĩa tự do tình dục vẫn còn thịnh hành. Việc nhiều nhà hoạt động, người nổi tiếng và trí thức này tiếp tục chỉ trích Giáo hội trong khi bảo vệ việc bóc lột tình dục trẻ em và thanh thiếu niên khiến họ còn tệ hơn cả những kẻ đạo đức giả: họ là những kẻ tiếp tay cho cái ác.
Ghi chú
(1) Laurie Goodstein, “Văn hóa thập niên 1960 được cho là nguyên nhân gây ra lạm dụng tình dục của linh mục”, New York Times, ngày 18 tháng 5 năm 2011, A1.
(2) “Vatican thiếu sót”, New York Times, ngày 18 tháng 5 năm 2011, https://www.nytimes.com/2011/05/19/opinion/19thu4.html.
(3) Tranh biếm họa của Tony Auth được đăng trên tờ Philadelphia Inquirer ngày 20 tháng 5 năm 2011.
(4) Joan Vennochi, “Đổ lỗi cho thập niên 60 đi, anh bạn”, Boston Globe, ngày 29 tháng 5 năm 2011,
http://archive.boston.com/bostonglobe/editorial_opinion/oped/articles/2011/ 05/29/blame_it_on_the_60s_man/.
(5) Jon Carroll, “Thập niên 60 đã khiến họ làm điều đó”, San Francisco Chronicle, ngày 19 tháng 5 năm 2011, đăng trên BishopAccountability.com, http://www.bishopaccountability.org/news2011/05_06/2011_05_19_Carroll_The60s.htm.
(6). Kelly McParland, “Nghiên cứu của Giáo hội đổ lỗi cho thập niên 60 phóng túng về các linh mục sa đọa”, National Post, ngày 20 tháng 5 năm 2011, https://nationalpost.com/fullcomment/church-study-blames-swinging-sixties-for-deviant-priests. https://www.nytimes.com/2019/04/11/world/europe/pope-Bê-nê-đíc-tô-lettersex-abuse.html.
(7) Philip Lawler, Những người trung thành đã ra đi: Sự sụp đổ của nền văn hóa Công Giáo Boston (New York: Encounter Books, 2008), 92.
(8) John L. Allen Jr., “Liệu ‘Ratzinger thật’ đã lộ diện?”, National Catholic Reporter, ngày 29 tháng 4 năm 2012, https://www.ncronline.org/blogs/ncr-today/has-real-ratzinger-come-outplay.
(9 )Leon Podles, Sự phạm thánh: Lạm dụng tình dục trong Giáo Hội Công Giáo (Baltimore: Crossland Press, 2008), 454.
(10). Rachel Donadio, “Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô nói hãy đổ lỗi cho thập niên 60 về sự lạm dụng của các linh mục”, Atlantic, ngày 12 tháng 4 năm 2019, https://www.theatlantic.com/international/archive/2019/04/priest-abusecatholic-church-1960s-pope-Benedict/587044/.
(11) Delia Gallagher, “Cựu Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI phá vỡ sự im lặng về cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục trong Giáo hội và đổ lỗi cho cuộc cách mạng tình dục và những người theo chủ nghĩa tự do”, CNN News, ngày 12 tháng 4 năm 2019, https://www.cnn.com/2019/04/11/world/Benedict-sex-abuse/index.html.
(12) Bill Donohue, “Bê-nê-đíc-tô XVI hứng chịu sự chỉ trích dữ dội”, Catholic League, ngày 17 tháng 4 năm 2019, https://www.catholicleague.org/Benedict-xvi-incurs-wrath-of-critics/.
(13) Michael D’Antonio, Tội trọng: Tình dục, tội ác và kỷ nguyên tai tiếng Công Giáo (New York: St. Martin’s Press, 2013), 179.
14 Ibid., 88.
(15) Andrew Greeley, “Cuộc cách mạng tình dục trong giới giáo sĩ Công Giáo”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo 14, số 2 (Mùa đông 1973): 98.
(16) Charles Morris, Người Công Giáo Mỹ: Các Thánh và Tội nhân đã xây dựng Giáo hội quyền lực nhất nước Mỹ (New York: Times Books, 1997), 221, 223, 225.
(17) Hannah Dellinger, “Vụ kiện Greenwich từ thời các cậu bé bơi khỏa thân”, Greenwich Time, ngày 27 tháng 4 năm 2019, cập nhật ngày 20 tháng 8 năm 2019, https://www.ctinsider.com/news/greenwichtime/article/Greenwich-lawsuitfrom-a-time-when-boys-swam-naked-13800918.php.
(18) Karen J. Terry, Trường Cao đẳng Tư pháp Hình sự John Jay (JJCCJ) và Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ (USCCB), Nguyên nhân và bối cảnh lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên bởi các linh mục Công Giáo tại Hoa Kỳ, 1950—2010: Báo cáo do Nhóm nghiên cứu Trường Cao đẳng John Jay trình bày trước Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ (Washington, D.C.: Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, 2011), 2-3.
(19) Bill Steigerwald, “Nguồn gốc của một vụ tai tiếng: 10 phút với… Michael Rose”, Tạp chí Jewish World Review, ngày 25 tháng 6 năm 2002, jewishworldreview.com/0702/steigerwald062502.asp
(20) Jason Berry, Đừng dẫn chúng con vào cám dỗ (New York: Doubleday, 1992), 189.
(21) Terry, JJCCJ, và USCCB, Nguyên nhân và bối cảnh, 4.
(22) Ibid., 3.
(23) Karen J. Terry, JJCCJ, và USCCB, Bản chất và phạm vi lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên bởi các linh mục và phó tế Công Giáo tại Hoa Kỳ từ năm 1950 đến năm 2002: Một nghiên cứu được thực hiện bởi Trường Cao đẳng Tư pháp Hình sự John Jay (Washington, D.C.: Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, 2004), 5.
(24) Aleksandr I. Solzhenitsyn, Đông và Tây (New York: Harper and Row, 1980), 48, 64-66.
(25) Patrick G. D. Riley, “Biện pháp tránh thai: Một thảm họa toàn cầu?”, Tạp chí Khoa học Xã hội Công Giáo (2005): 320.
(26) David Horowitz, Chương trình nghị sự đen tối: Cuộc chiến nhằm phá hủy nước Mỹ theo Ki-tô giáo(West Palm Beach, Florida: Humanix Books, 2018), 114-15.
(27) William A. Donohue, Tự do mới: Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể trong đời sống xã hội của người Mỹ (New Brunswick, New Jersey: Transaction Publishers, 1990), 134.
(28) Ibid., 133.
(29) Ibid., 133-34.
(30) Michael Specter, “Larry Kramer, người đàn ông đã cảnh báo nước Mỹ về AIDS, không ngừng đấu tranh mạnh mẽ và ồn ào”, New Yorker, ngày 13 tháng 5 năm 2002, 56.
(31) Leah Jessen, “Năm thành phố lớn hàng đầu về số người đi nhà thờ ở Mỹ; Nghiên cứu mới đã xác định được các khu vực ‘đi nhà thờ’ nhiều nhất và ‘không đi nhà thờ’ nhất trong cả nước”, LifeZette, ngày 10 tháng 6 năm 2017, http://www.lifezette.com/faithzette/the-top-five-big-cities-churchattendance.
(32) David France, Our Fathers: The Secret Life of the Catholic Church in an Age of Scandal (New York: Broadway Books, 2004), 87.
(33) Enrique Rueda, The Homosexual Network: Private Lives and Public Policy (Old Greenwich, Conn.: Devin Adair, 1982), 311.
(34) Nicole M. King, “Hợp pháp hóa ấu dâm: Làn sóng của tương lai?”, Family in America (Mùa đông 2014): 68.
(35) Rueda, Mạng lưới đồng tính luyến ái, 295-96.
(36) Philip F. Lawler, Những người trung thành đã ra đi: Sự sụp đổ của nền văn hóa Công Giáo Boston (New York: Encounter Books, 2008), 15.
(37) Lawler, Những người trung thành đã ra đi, 204.
(38) Ibid., 4.
(39) Leon Podles, Sự phạm thánh: Lạm dụng tình dục trong Giáo Hội Công Giáo (Baltimore: Crossland Press, 2008), 115.
(40) Michael Rezendes, “Nhà thờ cho phép linh mục lạm dụng trong nhiều năm”, Boston Globe, ngày 6 tháng 1 năm 2002,
https://www.bostonglobe.com/news/special-reports/2002/01/06/churchallowed-abuse-priest-foryears/cSHfGkTIrAT25qKGvBuDNM/story.html.
(41) Ban điều tra của tờ Boston Globe, Sự phản bội: Cuộc khủng hoảng trong Giáo Hội Công Giáo (Boston: Little, Brown and Company, 2002), 65-66.
(42) Ibid., 70.
(43) Podles, Sự phạm thánh, 159,
(44) Ban điều tra của tờ Boston Globe, Sự phản bội, 69.
(45) France, Kinh Lạy Cha, 86.
(46) Podles, Sự phạm thánh, 155.
(47) Ibid., 158.
(48) Sally Jacobs, “ ‘Nếu họ biết sự điên rồ trong tôi’: Một cuộc tìm kiếm về Mục sư Paul Shanley thực sự cho thấy ông ta vừa là anh hùng, vừa là nỗi kinh hoàng”, Boston Globe, ngày 10 tháng 7 năm 2002.
(49) France, Kinh Lạy Cha, 126-28.
(50) Podles, Sự phạm thánh, 152.
(51) Walter V. Robinson và Michael Paulson, “Một luật sư ‘đau buồn’ xin lỗi vì việc chỉ định Geoghan”, Boston Globe, ngày 10 tháng 1 năm 2002, A1.
(52) Ban điều tra của tờ Boston Globe, Sự phản bội, 69.
(53) Lawler, Những người trung thành đã khuất, 7.
(54) Rueda, Mạng lưới đồng tính luyến ái, 349.
(55) James Hitchcock, “Các giám mục bảo thủ, kết quả tự do”, Catholic World Report (tháng 5 năm 1995), đăng trên Ignatius Insight, http://www.ignatiusinsight.com/features2005/print2005/hitchcock_bishops_may05.html.
(56) “Tuyên bố của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ về chứng ấu dâm và Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần (DSM-5)”, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, ngày 31 tháng 10 năm 2013, https://www.apa.org/news/press/releases/2013/10/pedophilia-mental.
(57) Bruce Rind, Phillip Tromovitch và Robert Bauserman, “Kiểm tra phân tích tổng hợp các đặc tính giả định của lạm dụng tình dục trẻ em bằng cách sử dụng mẫu sinh viên đại học”, Psychological Bulletin 124, số 1 (tháng 7 năm 1998), được đăng trên PubMed, https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/9670820/.
(58) Anne Hendershott, “Trao quyền cho những kẻ ấu dâm”, New York Post, ngày 16 tháng 1 năm 2013, https://nypost.com/2013/01/16/empowering-pedophiles/.
(59) Mary Eberstadt, “Xem xét lại ‘Phong cách ấu dâm’; Điều cấm kỵ về quan hệ tình dục với trẻ em tiếp tục bị xói mòn”, Weekly Standard, ngày 1 tháng 1 năm 2001, trang 18.
(60) Rueda, Mạng lưới đồng tính luyến ái, trang 80.
(61) D’Antonio, Tội lỗi chết người, 27.
(62) Podles, Sự phạm thánh, 161.
(63) Ban điều tra của tờ The Boston Globe, Sự phản bội, 24.
(64) “Liệu pháp tâm lý cho người bị thu hút bởi trẻ vị thành niên”, B4U-ACT, tháng 2
2020, https://www.b4uact.org/wp-content/uploads/2020/02/Psychotherapyfor-MAPs-2020.pdf.
(65) Matt Barber, “ ‘Đã đến lúc bình thường hóa ấu dâm’: Báo cáo trực tiếp về Hội nghị B4U-ACT”, Viện Gia đình Illinois, ngày 22 tháng 8 năm 2011, https://illinoisfamily.org/marriage/time-to-normalize-pedophilia-firsthandreport-on-b4u-act-conference/.
(66) Ibid.
(67) Jordan Michael Smith, “Giáo sư của những hành vi kinh khủng”, Chronicle of Higher Education, ngày 18 tháng 2 năm 2018, https://www.chronicle.com/article/the-professor-of-horrible-deeds/.
(68) King, “Hợp pháp hóa ấu dâm”, 66.
(69) Michael Brown, “Lạm dụng tình dục thời thơ ấu thường góp phần dẫn đến đồng tính luyến ái”, Christian Post, ngày 24 tháng 2 năm 2017,
https://www.christianpost.com/news/childhood-sexual-abuse-oftencontributes-to-homosexuality.html.
(70) John Weir, “Điên cuồng vì những cậu bé”, Advocate, ngày 23 tháng 8 năm 1994, 37.
(71) Brown, “Lạm dụng tình dục thời thơ ấu”.
(72) Maureen Callahan, “Tại sao Hollywood cứ tiếp tục bảo vệ Roman Polanski?”, New York Post, ngày 5 tháng 10 năm 2017,
https://nypost.com/2017/10/05/why-does-hollywood-keep-defendingroman-polanski.
(73) Brent Bozell và Tim Graham, “Sự bào chữa kỳ lạ của Streisand dành cho Michael Jackson”, CNS News, ngày 29 tháng 3 năm 2019,
https://www.cnsnews.com/commentary/l-brent-bozell-iii/streisands-bizarremichael-jackson-defense.
(74) King, “Hợp pháp hóa ấu dâm”, 70.
(75) Robert Kahn, “Những rocker ủng hộ Townshend”, Newsday (phiên bản Queens), ngày 17 tháng 1 năm 2003.
(76) Todd Peterson, “Courteney Defends Pee-Wee”, People, ngày 25 tháng 11 năm 2002, https://people.com/celebrity/passages-courteney-defends-peewee.
(77) Hanna Rosin, “Chickenhawk”, New Republic, ngày 8 tháng 5 năm 1995, trang 42.
(78) Hilton Kramer, “Advancing the Cause of Deviancy”, New York Post, ngày 12 tháng 10 năm 1993, trang 19.
(79) France, Our Fathers, trang 397.
(80) Podles, Sự báng bổ, 339.
(81) Ibid.
(82) David Crary, “Cuốn sách về tình dục trẻ em làm nóng lên Nhà xuất bản”, Los Angeles Times, ngày 7 tháng 4 năm 2002, A24.
(83) Susanna Rustin, “Đánh giá: Cuộc Đời Trong Viết Văn: Colm Toibin”, Guardian, ngày 23 tháng 10, 2010, 12.
(84) Abby Ohlheiser, “Richard Dawkins bảo vệ chứng ấu dâm ‘nhẹ’, hết lần này đến lần khác”, Atlantic, ngày 10 tháng 9 năm 2013, https://www.theatlantic.com/international/archive/2013/09/richard-dawkinsdefends-mild-pedophilia-again-and-again/311230/.
(85) Norimitsu Onishi, “Một nhà văn ấu dâm đang bị xét xử. Giới tinh hoa Pháp cũng vậy”, New York Times, ngày 12 tháng 2 năm 2020, A1.
(86). Ibid.