Chương 4: Một Cuộc Đời Được Ban Cho Đúng Thời Điểm: Tái Thiết Chủ Thể Đạo Đức
4.1 Khả Năng Đưa ra và Duy trì Lời Hứa Hẹn
Đức Hồng Y Kasper đã giải thích một cách tuyệt vời rằng giáo huấn về mối dây liên kết bất khả phân ly của hôn nhân “là một tin mừng, tức là một niềm an ủi chắc chắn và một lời cam kết vẫn còn giá trị. Vì vậy, giáo huấn này coi trọng nhân vị và tự do của họ. Phẩm giá của con người là có thể đưa ra những quyết định lâu dài.” (1) Không nơi nào khác mà khả năng đưa ra những quyết định lâu dài này được phát biểu rõ ràng hơn là ở khả năng đưa ra và duy trì lời hứa hẹn. Chính ở đây, tự do của con người được hiện thực hóa rõ ràng nhất. Để thấy được sự vĩ đại của khả năng này và mối liên hệ của nó với tự do, người ta không cần phải là một tín hữu. Trong tác phẩm Phả Hệ Đạo Đức [The Genealogy of Morals], Friedrich Nietzsche, người không hề bị nghi ngờ là một nhà biện hộ Kitô giáo, đã ca ngợi những người có khả năng hứa hẹn. Đối với Nietzsche, ở đây chúng ta có trường hợp của cá nhân có chủ quyền, người có "ý chí độc lập, bền bỉ của riêng mình, người đàn ông có quyền đưa ra những lời hứa hẹn. Và ở anh ta, chúng ta tìm thấy một ý thức tự hào, căng thẳng trong từng thớ thịt, về những gì cuối cùng đã đạt được ở đây, về những gì đã trở thành hiện thân trong anh ta - một ý thức đặc biệt về sức mạnh và tự do." (2) "Người được giải phóng, người thực sự có quyền đưa ra những lời hứa hẹn, người làm chủ ý chí này", là "chủ nhân của một ý chí bền bỉ, không thể bị hủy hoại". (3) Điều khiến anh ta khác biệt trước những người khác là anh ta "nói lời của mình như một điều gì đó có thể tin cậy được, bởi vì anh ta biết mình đủ mạnh mẽ để giữ vững lời nói đó ngay cả khi gặp tai nạn, thậm chí 'chống lại số phận'" (4) Chắc chắn là trong những câu nói này, chúng ta không tìm thấy một chút khiêm nhường của tạo vật, một chút yếu đuối của con người, hoặc một ý niệm nhỏ nhất về nhu cầu của con người chúng ta đối với ân sủng chữa lành. Chúng không được viết với thái độ Kitô hữu, mà vì nó, công trạng của chúng ta chính là hồng phúc của Thiên Chúa. Tuy nhiên, mặc dù quá tự tin vào sức mạnh của con người, ở đây Nietzsche gọi sự xuất sắc là sự xuất sắc và như vậy nói lên một chân lý sâu sắc có liên quan mật thiết đến thời đại chúng ta ngày nay.
Ngày nay, người ta thường nghĩ rằng cam kết lâu dài bằng một lời hứa hẹn không thể hủy bỏ đồng nghĩa với việc giới hạn hoặc đánh mất tự do. Theo lời của Đức Benedict XVI, họ đặt câu hỏi: "Liệu người ta có thể ràng buộc bản thân suốt đời không? Điều này có phù hợp với bản chất của con người không? Nó có mâu thuẫn với tự do và phạm vi tự nhận thức của con người không?... Cam kết suốt đời có phải là đối nghịch với tự do không?" (5) Câu trả lời của Nietzsche chắc chắn sẽ là ngược lại: thông qua lời hứa, chúng ta hiện thực hóa tự do của mình, nắm giữ tương lai của mình. Bằng cách ràng buộc ý chí của mình, chúng ta trở thành chủ nhân của nó, giải phóng bản thân khỏi những cơn gió của đam mê, những biến động của may rủi, và thậm chí cả những bước tiến của số phận. Người thực sự tự do mới có thể hứa hẹn, và chỉ người có thể hứa hẹn mới thực sự tự do. Do đó, Đức Benedict và Nietzsche có lẽ sẽ đồng ý rằng “việc con người từ chối bất cứ cam kết nào” là “kết quả của một sự hiểu lầm về tự do và sự tự hiện thực hóa bản thân cũng như mong muốn thoát khỏi đau khổ”. (6)
Câu hỏi còn lại không phải là liệu việc hứa hẹn có trái ngược với tự do hay không – mà là liệu việc hứa hẹn có nằm trong tầm tay chúng ta hay không. Chẳng phải Nietzsche đã quá tự tin vào sức mạnh của con người đó sao? Nếu chỉ xét riêng về sức mạnh của con người, câu trả lời có lẽ phải là ông đã làm vậy. Tuy nhiên, tin vui của Tin Mừng chính là thế này: Thiên Chúa ban cho dân Người một trái tim mới, một trái tim cho phép họ trung thành với giao ước mà Thiên Chúa ban cho họ và họ đáp lại bằng cách đưa ra các lời hứa hẹn – lời khấn rửa tội cho tất cả các Kitô hữu, và sau đó là lời khấn hôn nhân hoặc lời khấn dòng tùy theo ơn gọi đích thân của mỗi người.
4.2. Vấn đề Hôn nhân Không hợp lệ
Với tất cả những điều này, giờ đây chúng ta hãy chuyển sang thảo luận về cách tiếp cận đầu tiên trong hai cách tiếp cận mà Đức Hồng Y Kasper đề xuất để giải quyết vấn đề ly dị và tái hôn dân sự. Ngài viết, “Familiaris Consortio nói rằng một số người ly dị và tái hôn chủ quan tin chắc trong lương tâm rằng cuộc hôn nhân trước đây đã tan vỡ không thể cứu vãn của họ chưa bao giờ thành sự (FC 4). Thực thế, nhiều mục tử tin rằng nhiều cuộc hôn nhân, được ký kết theo hình thức giáo hội, không được kết ước thành sự.” (7) Theo ngài, chúng ta không còn có thể đưa ra giả định chung rằng một cuộc hôn nhân nhất định là thành sự, một giả định mà theo ngài đã trở thành một hư cấu pháp lý. Với tỷ lệ hôn nhân không thành sự được cho là cao, Đức Hồng Y đặt câu hỏi “liệu con đường pháp lý, trên thực tế không phải là jure divino [theo thiên luật], nhưng đã phát triển trong quá trình lịch sử, có thể là con đường duy nhất để giải quyết vấn đề hay liệu có thể hình dung ra các thủ tục khác, mang tính mục vụ và tâm linh hơn hay không” (8). Thực thế, “người ta có thể hình dung rằng giám mục có thể giao phó nhiệm vụ này cho một linh mục có kinh nghiệm tâm linh và mục vụ như một đại diện sám hối hoặc đại diện giám mục.” (9)
Ở đây, Đức Hồng Y Kasper đưa ra một đề xuất cụ thể về việc sửa đổi một thủ tục mà Giáo hội có thẩm quyền thay đổi. Thủ tục pháp lý hiện tại, có thể dẫn đến việc tuyên bố hôn nhân vô hiệu, không phải là một phần của mặc khải thần linh, và do đó, người ta chắc chắn có thể thảo luận về các cách cải thiện nó. Tuy nhiên, có thể có những lý do thực tế chính đáng để không đồng ý với đề xuất của Đức Hồng Y, chẳng hạn như những lý do mà chính ngài đã viện dẫn chỉ vài dòng dưới đây, khi ngài nhấn mạnh rằng “sẽ là sai lầm nếu tìm cách giải quyết vấn đề bằng cách mở rộng quá mức thủ tục tuyên bố hôn nhân vô hiệu. Điều này sẽ tạo ra ấn tượng tai hại cho rằng Giáo hội tiến hành một cách không trung thực bằng cách chấp nhận những gì, trên thực tế, là ly hôn.” (10) Không rõ hai đoạn văn này tương thích với nhau như thế nào. Khó có thể phủ nhận rằng một thủ tục trong đó không còn là một tòa án giáo hội mà là một linh mục cá nhân phán quyết về sự vô hiệu của một cuộc hôn nhân chính là nói lên “sự mở rộng rộng rãi của quá trình hủy hôn”, mà chính Đức Hồng Y Kasper thừa nhận là không mong muốn vì ấn tượng tai hại mà nó có thể tạo ra.
Như hiện tại, một điều đã đủ khó khăn rồi khi phải giải thích cho người ta rằng thủ tục tuyên bố vô hiệu không phải là một cuộc ly hôn Công Giáo. Từ Thánh Gioan Tẩy Giả đến các Thánh Tử Đạo Anh và vượt xa hơn nữa, Giáo hội từng chứng kiến nhiều nhân chứng đã đổ máu để bảo vệ tính thánh thiêng của dây hôn phối. Một vị đại diện đền tội (penitentiary vicar) đơn thuần sẽ làm gì trước yêu cầu của Henry VIII? Trong thế kỷ XVI, Giáo hội về cơ bản đã mất cả một quốc gia vì sự kiên quyết của mình đối với tính bất khả phân ly của hôn nhân. Ngày nay, chúng ta có nên ít nhất gợi ý rằng điều này là thiếu khôn ngan, hay há không có một luận lý học nào cao hơn cấm đoán ngay cả vẻ bề ngoài của sự thỏa hiệp khi nói đến kho tàng đức tin được chính Thiên Chúa trao phó cho Giáo hội hay sao? Vì vậy, Đức Hồng Y Kasper đã tự mình chỉ ra những lý do phản đối đề xuất của mình. Tuy nhiên, vẫn cần phải nói thêm một điều gì đó cơ bản hơn về gợi ý của ngài.
Chúng ta phải tự hỏi làm sao lời khẳng định cho rằng “nhiều mục tử thực sự tin chắc rằng nhiều cuộc hôn nhân, được ký kết theo hình thức Giáo hội, không được ký kết thành sự” (11) lại có thể được viện dẫn là giải pháp cho bất cứ điều gì. Nếu niềm tin của nhiều mục tử hóa ra đúng, thì không thể coi đó là con đường dẫn đến giải pháp một phần cho các vấn đề liên quan đến người ly hôn và tái hôn dân sự. Bản thân nó là vấn đề lớn. Cần phải nhìn mọi sự theo đúng viễn ảnh của chúng. Như Đức Hồng Y Kasper đã chỉ ra một cách đúng đắn, chỉ có “một bộ phận nhỏ những người ly hôn và tái hôn” mới “thực sự quan tâm đến các bí tích”. (12) Vấn đề cho phép những người ly hôn và tái hôn dân sự được rước lễ là một vấn đề chỉ liên quan đến một số ít tín hữu. Đây là một vấn đề nảy sinh trong bối cảnh văn hóa phương Tây và được tri nhận là có tính cấp bách nào đó chỉ ở đó mà thôi, trong khi các Giáo hội địa phương ở Châu Á và Châu Phi có thể có những mối quan tâm hoàn toàn khác. Hơn nữa, như chúng ta đã thấy, Thánh Gioan Phaolô II và Đức Bênêđictô XVI đã đưa ra những giải pháp khả thi, tương ứng trong Tông huấn Familiaris consortio (số 84) và Sacramentum caritatis (số 29). Vì vậy, một giải pháp mục vụ mới sẽ chỉ liên quan đến những người đã ly dị và tái hôn dân sự, những người mong muốn lãnh nhận các bí tích và là những người không có khuynh hướng tuân theo các chỉ dẫn mà Giáo hội đã đưa ra cho đến nay. Việc đề cập đến sự kiện được cho là một số lượng lớn các cuộc hôn nhân bí tích được ký kết ngày nay là không hợp lệ như một giải pháp cho vấn đề cho phép một số ít người đã ly dị và tái hôn được lãnh nhận các bí tích là đưa ra một tình thế khó khăn lớn như một giải pháp cho một khó khăn nhỏ.
Nói cách khác, “giải pháp” ám chỉ một cuộc khủng hoảng có bản chất nền tảng hơn nhiều so với vấn đề mà nó được cần để giải quyết. Bắt tay vào một dự án cuộc đời và gặp phải những bất đồng, thậm chí là thất bại, điều này sau đó có thể dẫn đến ly thân và thậm chí là ly hôn dân sự là một chuyện. Nhưng là một chuyện khác hẳn khi cảm thấy mình bị tước đoạt chính khả năng bắt tay vào một dự án trong đó người ta có thể thành công hoặc thất bại, và điều đó không hàm ý gì hơn khi chúng ta nói về những nỗ lực không hợp lệ trong việc ký kết hôn nhân. Do đó, câu hỏi quan trọng hơn đối với việc chăm sóc mục vụ gia đình ngày nay là làm thế nào để bảo đảm rằng các cuộc hôn nhân được ký kết hợp lệ chứ không phải làm thế nào để tìm ra những cách bổ sung để cho phép Rước lễ những người đã ly hôn và tái hôn không muốn đi theo những con đường đã được Giáo hội vạch ra.
4.3 Con người trong thời hiện đại: Trở thành người cắm trại qua ly hôn
Để chỉ ra hướng đi trong đó có thể tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi quan trọng về việc làm cách nào bảo đảm để các cuộc hôn nhân được ký kết hợp lệ, chúng ta cần xem xét cuộc khủng hoảng đạo đức ngày nay. Tại sao người ta thấy khó khăn khi hứa hẹn, tức là đưa ra những cam kết ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của họ? Nhà xã hội học người Ba Lan Zygmunt Bauman đã tìm thấy một hình ảnh rất gợi ý để mô tả con người thời hiện đại, đó là hình ảnh một người cắm trại tại một khu cắm trại caravan. “Các tài xế mang theo nhà riêng của họ, gắn liền với xe, được trang bị đầy đủ tiện nghi cần thiết cho chuyến đi, dù sao thì họ cũng dự định sẽ ở lại đó trong thời gian ngắn.” (13) Những người cắm trại có tính tự chủ, ý thức được quyền lợi của mình, nhưng đồng thời cũng không quá quan tâm đến việc làm việc vì lợi ích của nơi họ đến vãng cảnh:
Vì họ trả tiền, nên họ cũng đòi hỏi. Họ có xu hướng khá cứng rắn khi tranh luận về quyền được hưởng các dịch vụ đã hứa nhưng ngoài ra họ muốn đi theo con đường riêng của mình. Nếu họ cảm thấy bị thiệt thòi hoặc thấy lời hứa của ban quản lý không được thực hiện, những người cắm trại có thể phàn nàn và yêu cầu bồi thường, nhưng họ sẽ không nghĩ đến việc đặt câu hỏi và đàm phán lại triết lý quản lý của khu cắm trại, chứ đừng nói đến việc tiếp quản trách nhiệm điều hành nơi này.(14)
Nếu khách cắm trại không thích một khu cắm trại, họ sẽ chuyển đi nơi khác. Họ không có tham vọng đầu tư thời gian và công sức để cải thiện nơi này. Tương tự như vậy, những người hiện đại thường nghĩ rằng họ đã có tất cả những gì họ cần. Nếu họ không hài lòng với thành phố, nơi làm việc hoặc các mối quan hệ thân mật của mình, họ ít có xu hướng cố gắng cải thiện mọi thứ. Thay vào đó, phản ứng bản năng của họ sẽ là chuyển đi nơi khác. Đối với Bauman, một trong những gốc rễ của tâm lý này là điều kiện làm việc đã thay đổi. Trong khi ở thời đại của nhà máy Ford đầu tiên - thời đại của “hiện đại nặng nề” - đã có “một lời thề hôn nhân kiểu ‘cho đến khi cái chết chia lìa’ giữa tư bản và lao động”,(15) thì tính linh hoạt đã trở thành tín điều mới của “hiện đại lỏng” ngày nay. Đời sống việc làm đã trở nên rời rạc, và việc sẵn sàng bỏ lại tất cả phía sau để bắt đầu lại từ đầu giờ đây là điều hoàn toàn cần thiết đối với bất cứ ai mong muốn tiếp tục theo đuổi sự nghiệp chuyên môn. Việc áp dụng mô hình này vào các mối quan hệ giữa người với người quả là hấp dẫn.
Thêm vào đó, các phương tiện sản xuất hiện đại của chúng ta đã trở nên quá mạnh mẽ đến nỗi giới hạn duy nhất của sản xuất dường như là giới hạn của tiêu dùng. Đây chính là điều Hannah Arendt gợi ý khi bà nói: “Trong điều kiện hiện đại, không phải sự phá hủy mà chính sự bảo tồn mới là nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại bởi vì chính độ bền của các vật thể được bảo tồn là trở ngại lớn nhất đối với quá trình doanh thu (turnover), mà sự gia tăng tốc độ liên tục của nó là sự bất biến duy nhất còn lại ở bất cứ nơi nào nó đã bám rễ.” (16) Chính sự tiêu dùng đã duy trì nền kinh tế, do đó trở thành đức tính tốt nhất của một công dân có lương tâm, trong khi tằn tiện và tiết kiệm là những thói xấu công cộng, ít nhất là ở thời điểm chúng ta hiểu được cách thức vận hành của nền kinh tế hiện đại. Não trạng này dễ dàng len lỏi vào các mối quan hệ giữa người với người. Như Bauman đã chỉ ra, “Các mối ràng buộc và hùn hạp thường bị xem và đối xử như những thứ để tiêu thụ, chứ không phải để sản xuất.... Nếu đối tác trong quan hệ hùn hạp được ‘khái niệm hóa’ theo những thuật ngữ như vậy, thì nhiệm vụ của cả hai bên không còn là ‘làm cho mối quan hệ hoạt động’ nữa—.... Thay vào đó, đây là việc đạt được sự hài lòng từ một sản phẩm sẵn sàng để tiêu thụ.”(17)
Nguyên việc hiện hữu của định chế pháp lý về ly hôn đã góp phần rất lớn vào việc cổ vũ thái độ này. Luật pháp có tác dụng giáo dục. Chỉ riêng việc luật ly hôn tồn tại trong xã hội thế tục đã chứng minh rằng chính quyền Nhà nước – mà đối với nhiều người vẫn là một chính quyền cho đến ngày nay – không cho rằng hôn nhân phải kéo dài “cho đến khi cái chết chia lìa chúng ta”, mà đó là một sự sắp đặt mang tính tạm thời. Cách đây vài năm, một chính trị gia địa phương ở Đức, Gabriele Pauli, đã gây xôn xao dư luận khi đề nghị giới hạn thời gian cam kết kết hôn trong bảy năm, sau đó có thể gia hạn nếu hai bên mong muốn.(18)
Những gì bà Pauli đạt được với đề xuất của mình cho thấy rằng người ta vẫn còn phần nào coi hôn nhân là một định chế tự nhiên mà con người bước vào, chứ không phải tạo ra, một định chế tình yêu vợ chồng vốn dĩ kéo dài cho đến khi một trong hai người qua đời. Tuy nhiên, không có điều gì trong các bản văn pháp lý của Nhà nước biện minh cho bất cứ sự phẫn nộ nào của công chúng. Hầu như không có sự khác biệt về phẩm chất giữa khả năng pháp lý được ly hôn "ít" hoặc không có lỗi và đề xuất giới hạn thời hạn ràng buộc pháp lý của hôn nhân là bảy năm.
Định chế pháp lý về ly hôn giả định rằng quan hệ hùn hạp là tạm thời, mà, theo Bauman, "có xu hướng trở thành một lời tiên tri tự ứng nghiệm.... Nếu người ta cho rằng cam kết của họ chỉ là tạm thời và cho đến khi có thông báo mới, thì những cam kết này có xu hướng trở thành như vậy do hậu quả của chính hành động của họ."(19) Chỉ riêng sự kiện người ta dễ dàng ly hôn đã góp phần rất lớn vào việc họ rơi vào tình huống mà họ nghĩ rằng họ cần phải ly hôn, vì điều đó thay đổi cách họ bước vào các mối quan hệ của mình và cách họ làm việc hoặc không làm việc trong chính những mối quan hệ này. Nếu mọi người chấp nhận một cam kết lâu dài, họ sẽ biết suy xét hơn trước khi bước vào, và họ cũng sẽ đầu tư nhiều công sức hơn làm cho nó thành công sau khi đã bước vào. Ngược lại, mọi hợp đồng hôn nhân với quyền được ly hôn đều ngầm coi việc kết hợp của hai bên với cùng một thái độ đã biến thành minh nhiên trong thực hành các thỏa thuận tiền hôn nhân phổ biến ở một số quốc gia. Ở đây, các cặp vợ chồng tương lai đã đồng ý về các điều kiện ly hôn trong tương lai trong trường hợp một hoặc cả hai người muốn thoát khỏi mối quan hệ. Làm thế nào ai đó lại có thể mong đợi một mối quan hệ như vậy kéo dài? Làm thế nào nó có thể không kết thúc sớm nếu kết thúc này đã được suy nghĩ và sắp đặt trước ngay từ đầu? Há chẳng tốt hơn hay sao khi bị bạn bè của mình phản bội hơn là không tin tưởng họ? (20) Liệu có bất cứ tình bạn nào, đặc biệt là tình bạn vợ chồng, có thể tồn tại nếu ngay từ đầu đã bị nghi ngờ?
Nhà xã hội học người Canada Jacques T. Godbout đã phát biểu rằng "ly hôn có lẽ là cuộc cách mạng xã hội quan trọng nhất của thời hiện đại". (21) Lý do là vì ly hôn đã thay đổi đáng kể mối quan hệ vợ chồng từ một loại ràng buộc vô điều kiện sang một loại ràng buộc có điều kiện. Điều phân biệt bạn bè với các thành viên trong gia đình là bạn bè được lựa chọn trong khi các thành viên trong gia đình thì không. Chúng ta không lựa chọn cha mẹ, anh chị em hay con cái. Kết quả là các mối quan hệ gia đình ít tự do hơn tình bạn, nhưng an toàn hơn, vì chúng hoàn toàn vô điều kiện. Bất cứ lúc nào, một người bạn cũng có thể nói với một người bạn rằng anh ta coi tình bạn của họ đã chấm dứt; vào lúc đó, nó thực sự sẽ kết thúc. Một người cha, trong lúc đau khổ và thất vọng tột độ, có thể nói với con trai mình: "Con không còn là con trai của ta nữa", nhưng con trai ông vẫn sẽ là con trai của ông. Do đó, “tình bạn không thể thay thế gia đình.” (22) Tất nhiên, có một mối quan hệ gia đình được lựa chọn một cách khôn ngoan, và đây là hạt nhân sáng lập của nó: cặp đôi. (23) Ý tưởng về hôn nhân theo nghĩa đầy đủ của nó là bằng giao ước hôn nhân, hai người bước vào một mối quan hệ vô điều kiện vốn tương tự như mọi mối quan hệ gia đình khác, biến hai người xa lạ thành họ hàng.(24) Mối quan hệ này được tự do lựa chọn lúc ban đầu như tình bạn, nhưng sau đó, thông qua giao ước, trở thành vô điều kiện như quan hệ họ hàng. Theo dòng suy nghĩ này, việc nói với vợ mình rằng cô ấy không còn là vợ nữa cũng vô lý như việc nói với chị gái mình rằng cô ấy không còn là chị gái mình nữa, và việc có một người chồng cũ cũng vô lý như việc có một người cha cũ.
Một thỏa thuận hôn nhân cho phép ly hôn rõ ràng là một loại rất khác: mối quan hệ được tự do lựa chọn lúc ban đầu và tiếp tục được tự do lựa chọn trong suốt thời gian tồn tại. Chính sự khác biệt này tạo nên một cuộc cách mạng xã hội thực sự, và khiến Godbout tự hỏi liệu “bản chất vô điều kiện của các mối quan hệ gia đình khác (anh chị em, chị em gái...) [có] tồn tại sau khi sự vô điều kiện trong cặp đôi kết thúc hay không”. (25) Tính hiện đại có nguy cơ khiến con người bị cô lập, mất gốc rễ, mất ràng buộc và cuối cùng bị bỏ rơi. Vì vậy, bằng cách bảo vệ tính bất khả phân ly của hôn nhân, Giáo hội đã thực hiện một dịch vụ vô giá cho nhân loại trong thời hiện đại. Sẽ là tai họa nếu các mục tử và thầy dạy của Giáo hội cho ấn tượng dù nhỏ nhoi rằng họ đã chấp nhận sự kiện hầu hết các luật lệ trên thế giới đều có quy định về ly hôn. Đó là sự kiện Giáo hội không bao giờ có thể chấp nhận. (26) Nếu giáo hội yêu thương con người, nếu giáo hội muốn góp phần xây dựng lại chủ thể đạo đức, giáo hội sẽ luôn nêu rõ sự phản đối ly hôn và khẳng định rằng đối với giáo hội, Nhà nước không có thẩm quyền nhiều hơn để định nghĩa Hôn nhân như nó có thẩm quyền định nghĩa luật trọng lực, và do đó, bằng cách định nghĩa các điều khoản ly hôn, nó đang vượt quá giới hạn của nó. Thật vậy, cách đây không lâu, quan điểm cho rằng Nhà nước không có thẩm quyền định nghĩa hôn nhân là gì không chỉ giới hạn ở Giáo hội mà còn được các nhà tư tưởng được biết đến như những người không sùng đạo nhiệt thành ủng hộ. Vì vậy, trong một bài xã luận trên tờ Rheinische Zei-tung, mà ông đã chỉ đạo vào thời điểm đó, Karl Marx trẻ tuổi đã bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề dự luật ly hôn như sau: “Nhà lập pháp... không làm ra luật, ông không phát minh ra chúng, ông chỉ xây dựng chúng, thể hiện bằng những luật lệ có ý thức và tích cực những quy luật nội tại của các mối quan hệ tâm linh.... Một người kết hôn không tạo ra hôn nhân, không phá hủy nó, cũng như một vận động viên bơi lội không tạo ra hoặc phát minh ra bản chất và quy luật của nước và trọng lực.” (27)
Chúng ta đã bắt đầu chương này bằng câu hỏi làm cách nào việc chăm sóc mục vụ của Giáo hội có thể giúp mọi người đầu tư vào một lời hứa, để thực hiện những cam kết lâu dài, cho phép họ kết hôn hợp lệ. Câu trả lời đầu tiên sẽ là mở ra cho các tín hữu một góc nhìn mới, nhấn mạnh rằng Giáo hội thực sự tin vào những gì mình nói. Đối với một số tín hữu, lần đầu tiên họ nghe về hôn nhân bất khả phân ly có thể là trong lần gặp gỡ cuối cùng với linh mục trong buổi chuẩn bị hôn nhân. Cặp đôi sắp cưới có thể chân thành; họ có thể nghe những lời này, nhưng vì thiếu bối cảnh rộng hơn, họ vẫn còn nhầm lẫn về thể loại văn chương của chúng. “Cho đến khi cái chết chia lìa chúng ta”—chẳng phải đây là một cách diễn đạt đầy chất thơ tuyệt đẹp về cảm xúc của một người lúc đó sao? Khi nói những lời này, người ta còn có thể muốn nói gì khác ngoài, “Vâng, ngay lúc này, tôi thực sự muốn ở bên em đến hết cuộc đời này”? Ý tưởng cho rằng những lời này không chỉ là một biểu thức cảm xúc nhất thời, mà chúng là lời hứa mà người ta cam kết ý chí cho toàn bộ tương lai và mang lại một hình thức dứt khoát cho cuộc đời mình, có thể đơn giản là không dễ dàng tiếp cận đối với những người lớn lên trong thời đại duy cảm xúc của chúng ta. Họ sẽ không thể hiểu được điều đó, trừ khi nó được tuyên bố với sự kiên định và xác tín.
Nếu đúng là có rất nhiều cuộc hôn nhân bất hợp lệ, thì đây không phải là giải pháp cho bất cứ điều gì, và một cuộc hôn nhân hợp lệ, bất khả phân ly không phải là gánh nặng. Giáo hội cần làm mọi thứ trong khả năng của mình để giúp mọi người kết hôn hợp lệ, và một phần của điều này là nói rõ cho họ biết sự thật về tính bất khả phân ly. Các mục tử và thầy dạy của Giáo hội không được để mình bị cám dỗ nghĩ rằng sự thật này là gánh nặng, rằng chừng nào con người còn thiếu hiểu biết, họ không phải chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình và do đó có thể sống một cuộc sống hạnh phúc mà không phải mạo hiểm ơn cứu rỗi đời đời của mình. (28) Tội lỗi gây đau đớn—ngay cả trong đời này, chính lòng thương xót đòi hỏi chúng ta phải nói sự thật với người ta, chắc chắn là vì sự cứu rỗi đời đời của họ, nhưng cũng vì hạnh phúc mà chúng ta có thể có được ở thế giới này. Sự thật không làm cho cuộc sống này trở nên khó khăn hơn mà cho phép chúng ta sống tốt. Cuộc sống không đi kèm với một cuốn sách hướng dẫn, và đặc biệt là trong lĩnh vực tình dục, tất cả con người đều rất dễ bị tổn thương. Ở đây, thật tàn nhẫn khi để mọi người học hỏi qua thử nghiệm và sai lầm. Điều đó có nghĩa là bỏ rơi họ; nó có nghĩa là khiến họ phải chịu những hậu quả tiềm tàng thảm khốc. Một số lỗi lầm tàn khốc đến mức chỉ cần phạm phải một lần là đủ để hủy hoại cả cuộc đời. Tất nhiên, tội lỗi luôn có thể được tha thứ, nhưng một số thiệt hại có thể là không thể khắc phục được về mặt con người. Chỉ cần một sai lầm, những gì đáng lẽ có thể trở thành một cuộc sống tươi đẹp có thể bị hủy hoại hoàn toàn, ít nhất là ở khía cạnh trần thế của nó. Đây là lý do tại sao các nhà giáo dục không được sợ hãi khi phải chịu trách nhiệm, và đặc biệt là Giáo hội cần phải sống xứng đáng với ơn gọi mà mình đã lãnh nhận từ Thiên Chúa, nghĩa là loan báo cho họ tin mừng, một tin mừng chạm đến cuộc sống của họ và kêu gọi họ hoán cải (x. Mc 1: 15). Do đó, việc tìm kiếm những hình thức chuẩn bị hôn nhân mới mẻ và hữu hiệu hơn, đặc biệt là sự chuẩn bị từ xa và gần mà Familiaris consortio đề cập (xem số 66), dường như là một trong những thách thức cấp bách nhất đối với việc chăm sóc mục vụ gia đình trong bối cảnh truyền giảng tin mừng.
Còn tiếp