Ngày 09-01-2026
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
00:28 09/01/2026

96. Đối với việc nhận biết một việc nhỏ khiêm tốn và một việc làm khiêm tốn, thì có giá trị rất nhiều so với toàn bộ tri thức của thế gian.

(Thánh nữ Terese of Avila)

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")

----------

http://www.vietcatholic.net

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://www.nhantai.info
 
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
00:32 09/01/2026
41. CHỈ DỤ CỦA PHẬT SỐNG

Có một hòa thượng rất thích uống rượu ăn thịt, hòa thượng trụ trì nhiều lần quở trách ông ta.

Hòa thượng ấy oán hận trong lòng bèn tập họp các hòa thượng khác lại, mặt mũi vẽ lăng nhăng, tay cầm gậy gỗ, uy hiếp hòa thượng trụ trì, nói:

- “Chúng ta là Tế Công hóa thân, bây giờ nhắn nhủ nhà ngươi: phật môn của chúng ta ngoài việc từ bỏ ba việc tham, sân, si ra, còn trăm thứ khác không cấm kỵ, thì uống rượu ăn thịt có quan hệ gì chứ?”

Nói xong, giơ cao gậy muốn đánh, hòa thượng trụ trì rất sợ hãi, cúi đầu nhận tội, từ đó về sau không còn dám cấm các đồ đệ uống rượu nữa.

Quan huyện biết được, bèn bắt hòa thượng trụ trì đến trách phạt, hòa thượng trụ trì nói:

- “Tôi tình nguyện chịu lão gia phạt, chứ không dám làm sai lời chỉ dụ của phật sống !”

(Khán Sơn Các Nhàn bút)

Suy tư 41:

Tham, sân, si không phải chỉ các hòa thượng mới cấm kỵ, nhưng muốn trở thành con người tốt thì ai cũng cố gắng từ bỏ tham, sân, si trong cuộc sống của mình.

Người Ki-tô hữu cũng phải từ bỏ tham, sân, si như những người khác, nhưng tham, sân, si, không phải tự trên trời rơi xuống, cũng không phải bởi người khác...lây lan qua, nhưng nó đã có sẵn trong tim trong máu của chúng ta, và luôn đồng hành với cuộc sống của con người. Do đó, diệt tham, sân, si không phải là chuyện một sáng một chiều, và cũng không phải tự mình diệt được, vì không ai muốn tự diệt mình cả, nhưng phải nhờ ân sủng của Thiên Chúa mới có thể diệt trừ được tham, sân, si.

Từ bỏ tham, sân, si là chỉ dụ của phật chết, nhưng uống rượu ăn thịt là chỉ dụ của phật sống, đó là cái si của hòa thượng trụ trì, cho nên thà bị quan lớn phạt vì tội để cho cấp dưới lộng hành phá gới, hơn là làm sai lời (ba láp) của phật sống.

Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của kẻ sống, nên lời dạy của Người cũng là lời ban sự sống đời đời.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)


---------

http://www.vietcatholic.net

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://www.nhantai.info
 
ĐẾN MỨC VÔ HÌNH
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
15:53 09/01/2026
ĐẾN MỨC VÔ HÌNH

“Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi!”.



Schleiermacher, triết gia Đức, có lần lang thang trong công viên về đêm, cảnh sát nghi là kẻ say. Khi được hỏi “Ông là ai?”, ông buồn buồn đáp, “Ước gì tôi biết!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tiếng thở dài của triết gia Đức được gặp lại trong Tin Mừng hôm nay khi các môn đệ Gioan chao đảo vì ghen tuông với Chúa Giêsu. Gioan nói, “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi!”. Đó là một ‘chọn lựa căn tính’ - dám rút khỏi trung tâm, nhỏ lại ‘đến mức vô hình!’.

Trong đời sống tông đồ, chúng ta thường vất vả không vì nhiều việc, mà vì muốn giữ lại ánh sáng. Lắm lúc, điều làm chúng ta đau không là thất bại của sứ vụ, mà là thành công của người khác. Như vậy, tôi yêu hình ảnh của tôi hơn yêu Nước Trời. Chúng ta không mệt vì phục vụ; nhưng mệt vì phải bảo vệ hình ảnh của mình khi phục vụ. Vì thế, chúng ta dễ so sánh, dễ chạnh lòng khi thấy công việc của người khác phát triển nhanh hơn, được ghi nhận nhiều hơn. Đằng sau sự nhiệt thành, đôi khi ẩn giấu một cơn khát được biết đến, được nhắc tên, được công nhận. Khi những điều ấy không còn, chúng ta mệt mỏi, chán nản, thậm chí cay đắng. Điều khó nhất không phải là làm nhiều hay làm ít, mà là chấp nhận lùi lại ‘đến mức vô hình’. “Những thánh vĩ đại nhất là những người không ai trên thế gian biết đến!” - Mẹ Têrêxa.

Gioan mời gọi một con đường sâu hơn - không chỉ lu mờ, mà nhỏ đi đến mức mọi nhu cầu tự khẳng định được thanh luyện. “Nhỏ lại” không chỉ để khiêm nhường, mà để được che khuất trước Đấng Messia. Lu mờ ‘đến mức vô hình’ không phải là mất mát; đó là cách duy nhất để ánh sáng Chúa Kitô rực sáng. Khi không còn bận tâm đến vị trí, danh dự, tiếng nói, chúng ta tự do để lắng nghe, để trao ban, và để ở lại trong niềm vui “người bạn của chú rể”. “Công việc của Thiên Chúa thường được thực hiện trong bóng tối, nơi không ai thấy!” - Charles Spurgeon.

Về điểm này, Phaolô đã có một trải nghiệm tuyệt vời, “Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi”. Đó không phải là xoá bỏ nhân cách, mà là hoán cải tận căn - trung tâm đời sống. Khi Chúa Kitô lớn lên, mọi ham muốn hơn thua, so đo, dần được thay thế bằng bình an và niềm vui. “Khiêm nhường là sự thay thế bản ngã bằng việc tôn Chúa lên ngai!” - Andrew Murray.

Anh Chị em,

“Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi!”. Con đường nên thánh không luôn đi qua thành tựu rực rỡ, mà thường đi qua những chọn lựa âm thầm, những bước lùi không ai vỗ tay, những khoảnh khắc để cho mình chìm vào hậu trường của lịch sử cứu độ. Vâng, cả ‘một lịch sử cứu độ!’. Sống ‘đến mức vô hình’ là chấp nhận để đời mình trở thành khoảng trống cho Thiên Chúa tự do hành động, là để niềm vui của Ngài trở thành niềm vui của chúng ta. “Hãy trở nên không gì cả để Chúa Kitô là tất cả!” - Catharina Siêna.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, thật xấu xí khi con ‘hơn thua’ trong sứ vụ. Xin giải thoát con khỏi thèm khát được nhìn thấy. Cho con biết lùi lại để Chúa nổi bật trong con, trong anh chị em con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 
Lễ Đức Chúa Giêsu chịu Phép Rửa
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
16:04 09/01/2026
CHÚA NHẬT

LỄ ĐỨC CHÚA GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA


(Chúa nhật I thường niên)

Tin mừng : Mt 3, 13-17

“Chịu phép rửa xong, Đức Chúa Giê-su thấy Thần Khí Thiên Chúa ngự trên Người”.


Anh chị em thân mến,

Mùa giáng sinh sẽ chấm dứt sau chúa nhật lễ Đức Chúa Giê-su chịu Phép Rửa, cũng có nghĩa là Ngài đã công khai đi rao giảng tin mừng Nước Trời với sự chứng nhận của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần. Với biến cố này, tôi chia sẻ với anh chị em mấy điểm sau đây:

1. Khiêm tốn của thánh Gioan Tẩy Giả.

Một con người xuất hiện giữa lúc dân chúng mòn mỏi trông mong đấng cứu thế đến để giải thoát họ khỏi ách đô hộ của ngoại bang, người ta cho rằng ông Gioan Tẩy Giả là vị đại tiên tri mà các tiên tri đã loan báo, là người mà dân Do Thái trông đợi, và người ta đã ùn ùn kéo đến để nghe lời ngài giảng dạy, chịu phép rửa của ngài để tỏ lòng thống hối ăn năn.

Khi mà cao trào ngưỡng mộ của quần chúng muốn tôn vinh ông lên cao, thì ông đã thẳng thắn nói với họ rằng ông không phải là Đấng Mê-si-a; và rõ ràng nhất là trong sự đối thoại của ông với Đức Chúa Giê-su khi Ngài đến để xin ông làm phép rửa: “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !”- Sự khiêm tốn này của thánh Gioan Tẩy Giả đã được Thiên Chúa chọn làm người dọn đường cho Đức Chúa Giê-su là đấng Mê-si-a phải đến.

Người khiêm tốn là người luôn nhận thức sâu xa về sứ vụ và trách nhiệm của mình, dù cho ánh hào quang thành công của mình đang tỏa sáng nơi quần chúng. Thánh Gioan Tẩy Giả đã có sự khiêm tốn ấy, nên Thiên Chúa đã chọn ngài giữa muôn ngàn người làm kẻ dọn đường cho Đấng Cứu Thế.

2. Khiêm tốn của Đức Chúa Giê-su.

Là Con Thiên Chúa, là Đấng Mê-si-a mà muôn dân trông đợi từng giây từng phút, Đức Chúa Giê-su đã đến không như vị quân vương oai hùng trên lưng ngựa, nhưng như tất cả những người thanh niên Do thái khác kéo đến sông Gio-đan xin ông Gioan Tẩy Giả làm phép rửa, không ầm ĩ, không kèn trống, không có người dẹp đường và tiếng hô vang, Đức Chúa Giê-su đã âm thầm xuống nước cúi đầu để ông Gioan Tẩy Giả dìm trong nước bày tỏ sự thống hối ăn năn, dù Ngài không vướng tội nào.

Sự khiêm tốn này được thấy rõ nhất nơi hang đá Bê-lem: Con Thiên Chúa bỏ trời xuống thế, vinh quang biến thành tầm thường, Đấng tạo dựng trở thành tạo vật, Đấng cứu độ lại trở thành như kẻ tội nhân khi nhận phép rửa nơi sông Gio-đan, và cuối cùng thì chết trên thập giá và sống lại. Đó là sự khiêm tốn mà chính các thiên thần cũng còn phải ngạc nhiên và sấp mình kính phục, vang tiếng ngợi khen; sự khiêm tốn này làm cho ma quỷ phải kinh sợ và hoài nghi: đây có phải là Đấng sẽ đến để đánh đổ quyền lực tội lỗi của mình chăng?

Sự khiêm tốn này đã trở thành nền tảng cho nhân loại trên con đường cứu rỗi, và là nền tảng hòa bình lâu dài của con người, bởi vì ân sủng của Thiên Chúa chỉ ở nơi tâm hồn của những người khiêm tốn.

Anh chị em thân mến,

Làm chứng nhân cho Nước Trời là sứ mạng và là bổn phận của những người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, đó là một vinh dự và là một niềm tự hào cho chúng ta.

Nhưng để được Thiên Chúa sáng danh trong cuộc sống của mình, mỗi người chúng ta phải là một chứng nhân cho Tin Mừng mà Đức Chúa Giê-su rao giảng, Tin Mừng đó là sống yêu thương và hy sinh như chính Đức Chúa Giê-su đã sống, bởi vì sẽ không là Tin Mừng nếu chúng ta không sống yêu thương, và sẽ không là niềm vui cho tha nhân nếu chúng ta không biết hy sinh chính mình, Đức Chúa Giê-su và thánh Gioan Tẩy Giả đã làm như thế khi ở nơi sông Gio-đan: quên mình đi để danh Thiên Chúa được vinh quang.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

-----------

http://www.vietcatholic.net

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://www.nhantai.info
 
NƯỚC GIOĐAN VÀ BÍ TÍCH: KHỐI TÌNH - Ý CHÍ - SỰ SỐNG
Lm JB Nguyễn Minh Hùng
23:09 09/01/2026
NƯỚC GIOĐAN VÀ BÍ TÍCH: KHỐI TÌNH - Ý CHÍ - SỰ SỐNG

LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA 2026

Với việc Chúa Giêsu chịu phép rửa, Phụng Vụ khép lại Mùa Giáng Sinh và mở ra Mùa Thường Niên. Ánh đèn lung linh của đêm thánh không còn rực rỡ. Những bài ca tưng bừng mừng Con Thiên Chúa giáng trần lắng dần.

Hội Thánh đưa chúng ta bước sang một nhịp sống khác: âm thầm hơn, chậm hơn, sâu hơn. Không phải niềm vui vơi cạn, nhưng là niềm vui trưởng thành, niềm vui của người bắt đầu đồng hành với mầu nhiệm cứu độ, trong cả thiên tính và nhân tính của Đấng Cứu Thế.

Chúa Giêsu không đi từ máng cỏ lên ngai vàng. Chúa đi từ máng cỏ xuống dòng sông. Và dòng sông ấy là Giođan.

1. GIOĐAN: DÒNG SÔNG NHỎ BÉ MANG LỊCH SỬ LỚN LAO.

Nhìn bằng con mắt địa lý, Giođan không có gì đáng kể. Không lưu vực rộng, không nước xiết, không chiều sâu "đáng nể". So với nhiều con sông Việt Nam, nó chỉ đáng gọi là con kênh, con rạch. Có người nghịch ngợm từng nói: Đứng bên này, ném một hòn đá, có khi hòn đá còn văng xa hơn bờ bên kia.

Nhưng dòng nước nhỏ bé ấy chuyên chở nơi mình cả một lịch sử, không chỉ của dân Israel, mà là lịch sử cứu độ. Nó không đo bằng mét khối nước, nhưng bằng thời gian, hồng ân, tình yêu, ân huệ và dấu ấn của Thiên Chúa.

Giođan đã chứng kiến bước chân run rẩy của dân nô lệ sau bốn mươi năm sa mạc, khi họ vào Đất Hứa. Dòng nước ấy dừng lại, mở lối cho dân đi qua, để sự sống được tiếp tục, để lời hứa không bị chôn vùi trong cát nóng hoang địa.

Giođan đã mở ra cho Êlia, vị ngôn sứ lửa đi qua, để từ đó ông được đưa về trời. Và cũng chính Giođan lại mở ra lần nữa cho Êlisa, người học trò trở về với dân, mang theo sứ mạng, quyền năng và lòng xót thương của Thiên Chúa.

Giođan không giữ lại cho mình điều gì. Nó mở ra, trao đi, và để người khác tiếp tục hành trình.

2. DÒNG SÔNG KHÔNG HỦY DIỆT NHƯNG TRAO SỰ SỐNG.

Điều rất đặc biệt: Trong toàn bộ Kinh Thánh, Giođan không bao giờ là biểu tượng của sự hủy diệt. Nó có thể tràn bờ mùa lũ, có thể nguy hiểm vì lau sậy rậm rạp, thú dữ ẩn nấp. Nhưng chưa bao giờ Giođan được kể như khí cụ Thiên Chúa dùng để tiêu diệt dân riêng hay quân thù.

Khác Biển Đỏ, nơi quân Ai Cập bị nhận chìm, Giođan chỉ mở ra cho sự sống. Nó không khép lại để giết ai. Nó không nhấn chìm quân thù. Nó không mang lấy máu và xác chết. Nó là biểu tượng của một Khối Tình, của một Ý Chí: Thiên Chúa muốn con người được sống và sống dồi dào.

Giođan vì thế là dòng sông của chuyển tiếp, của trưởng thành, của bước sang một đời sống mới. Không còn là trốn chạy nô lệ, nhưng là đảm nhận trách nhiệm của người tự do.

3. GIOĐAN, DÒNG SÔNG CỦA SÁM HỐI VÀ TRỞ VỀ.

Chính tại dòng sông ấy, Gioan Tẩy Giả xuất hiện. Ông không dựng đền đài, không tổ chức lễ nghi cầu kỳ. Ông mời gọi con người đi ra khỏi mình, rời bỏ sự tự mãn, để bước xuống dòng nước thống hối.

Giođan trở thành lời mời gọi mạnh mẽ: Ai thao thức về Sự Sống thì phải hòa vào nó, phải trầm mình trong nó. Phải chấp nhận ướt, chấp nhận lạnh, chấp nhận hạ mình. Không ai có thể đứng trên bờ mà được đổi mới.

Gioan là người dọn đường đích thực: Không dọn đường cho quyền lực, nhưng cho một Khối Tình; không phục vụ ý riêng, nhưng là Ý Chí của Thiên Chúa. Ông nên phương tiện để Đấng Cứu Thế đi vào đời, đi vào lòng người, biến họ thành những con người sống, những con người hướng về vĩnh cửu.

4. CHÚA GIÊSU BƯỚC XUỐNG GIOĐAN, CAO ĐIỂM CỦA KHIÊM HẠ.

Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế của lời hứa, không đứng trên bờ để giảng dạy. Chúa bước xuống. Không phải Chúa cần thống hối. Nhưng Chúa muốn mang lấy thân phận tội nhân.

Giây phút ấy, Giođan không chỉ là dòng sông của Israel, mà trở thành dòng sông của toàn nhân loại. Chúa thánh hóa dòng nước bằng chính sự hiện diện của Chúa. Chúa làm cho nước, vốn là thụ tạo, nên dấu chỉ của sự sống mới.

Chính tại đó, trời mở ra, Thánh Thần ngự xuống, và tiếng Chúa Cha vang lên: "Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con". Tình yêu được mạc khải. Ý Chí được tỏ lộ. Khối Tình được đặt giữa nhân loại.

5. TỪ GIOĐAN ĐẾN DÒNG NƯỚC BÍ TÍCH.

Từ Giođan, Chúa Giêsu đã thánh hóa dòng nước. Và nếu Giođan không bao giờ là biểu tượng của sự hủy diệt, thì dòng nước Bí Tích lại mang một quyền năng mới: quyền năng của cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô.

Dòng nước Bí Tích hôm nay: Không hủy diệt con người nhưng hủy diệt tội lỗi. Không giết chết thân xác Nhưng làm cho con người cũ phải chết đi.

Chính nơi dòng nước ấy, ma quỷ, kẻ thù của chúng ta bị đánh bại. Không bằng bạo lực, nhưng bằng kết hợp với Chúa Kitô chịu chết và sống lại.

Giođan không thể hủy diệt quân thù. Nhưng dòng nước Bí Tích làm cho ma quỷ phải đầu hàng, vì nó nối kết chúng ta với Đấng đã chiến thắng sự chết.

6. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA HÔM NAY.

Trong một thế giới ồn ào, phô trương, thích sức mạnh và hiệu quả, Giođan nhắc chúng ta:

- Sự sống không đến từ cái lớn, mà từ cái trung thành;

- Không đến từ quyền lực, mà từ sự vâng phục;

- Không đến từ đứng cao, mà từ dám bước xuống.

Sống ơn Thánh Tẩy hôm nay là:

- Dám sống khiêm nhu giữa một thế giới hiếu thắng.

- Dám chọn sự sống giữa văn hóa sự chết

- Dám tin rằng mình thuộc về gia đình của Thiên Chúa: có Chúa Cha, có Chúa Kitô là Anh Cả, và tất cả chúng ta là anh em.

Từ Giođan đến dòng nước Bí Tích, Hội Thánh không ngừng mời gọi trở về với cội nguồn đích thực của đời mình. Không phải để tìm sức mạnh hủy diệt, nhưng để kín múc sự sống trường sinh.

Xin cho chúng ta, mỗi lần nhớ đến phép rửa của mình, biết bước xuống "Giođan" của đời mình, để ở đó, Khối Tình của Thiên Chúa tiếp tục chảy qua chúng ta, và Ý Chí cứu độ của Ngài tiếp tục được thực hiện nơi thế giới hôm nay.

Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Giáo Hoàng Leo sẽ tổ chức các công nghị Hồng Y thường niên
Vũ Văn An
15:51 09/01/2026

Các cuộc họp thường niên sẽ tạo điều kiện cho việc cầu nguyện và đối thoại giữa các Hồng Y trên toàn thế giới.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV chủ trì Thánh lễ với các Hồng Y tại Rome trong buổi Hồng Y đoàn tuần này. Ảnh: Abaca Press/Alamy.


Edgar Beltrán của tạp chí The Pillar, ngày 09/01/2026, tường trình rằng: Đức Giáo Hoàng Leo đã thông báo ngài sẽ tổ chức công nghị Hồng Y đoàn thường niên để thảo luận và tham vấn với các Hồng Y trên toàn thế giới, bắt đầu từ tháng Sáu năm nay.

Thông báo được đưa ra vào ngày 8 tháng 1, khi kết thúc công nghị đặc biệt đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Leo.

Đức Giáo Hoàng dự định tổ chức công nghị thứ hai trong năm nay, tiếp theo là các cuộc họp Hồng Y đoàn thường niên, dài hơn một chút bắt đầu từ năm sau.

Công nghị đặc biệt năm nay là lần đầu tiên được tổ chức sau nhiều năm, khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô phần lớn tránh các cuộc họp này trong suốt triều đại của ngài, thay vào đó ngài thích gặp gỡ các Hồng Y riêng lẻ hoặc theo nhóm nhỏ hơn.

Trước thềm mật nghị bầu chọn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, một số Hồng Y phàn nàn về việc thiếu sự tham vấn dưới thời Đức Giáo Hoàng Phanxicô – và việc thiếu các công nghị thường niên khiến các thành viên của Hồng Y đoàn không có cơ hội hiểu biết lẫn nhau.

Trong bài giảng Thánh lễ ngày 8 tháng 1, Đức Giáo Hoàng Leo nói với các Hồng Y rằng họ tham dự công nghị “không phải để thúc đẩy ‘chương trình nghị sự’ cá nhân hay nhóm, mà để phó thác kế hoạch và cảm hứng của chúng ta cho sự phân định vượt trên chúng ta… và chỉ đến từ Chúa.”

“Hồng Y đoàn của chúng ta, dù giàu kỹ năng và tài năng đáng kể, không được kêu gọi chủ yếu để trở thành một nhóm chuyên gia đơn thuần, mà là một cộng đồng đức tin,” Đức Giáo Hoàng nói. “Chỉ khi những ơn huệ mà mỗi người mang đến được dâng lên Chúa và được Người đáp lại, chúng mới sinh ra hoa trái lớn nhất theo sự quan phòng của Người.”

Một số Hồng Y rời công nghị hiện tại nói với tờ The Pillar rằng các ngài rất vui mừng với đề xuất tổ chức các buổi gặp gỡ thường niên để thảo luận và cầu nguyện.

“Chúng tôi rất vui mừng,” Đức Hồng Y Fernando Chomalí của Santiago de Chile nói.

Các Hồng Y cho biết Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi một công nghị bất thường khác vào ngày 27-28 tháng 6 năm nay, và cho rằng ngài dự định tổ chức những cuộc gặp gỡ như vậy hàng năm.

Các ngài cho hay: Bắt đầu từ năm sau, Đức Giáo Hoàng đã tuyên bố ngài dự định các cuộc gặp gỡ sẽ kéo dài hơn — ba hoặc bốn ngày — sau khi nhiều Hồng Y cho rằng khung thời gian hai ngày là quá ngắn để có một cuộc thảo luận thực chất và buộc họ phải lựa chọn giữa các chủ đề.

Nhiều Hồng Y cho biết các cuộc thảo luận trong vài ngày qua tập trung vào việc trở lại sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội.

Đức Hồng Y Wilfred Napier, Tổng Giám mục danh dự của Durban, nói với tờ The Pillar rằng cuộc thảo luận tập trung vào việc “trở lại những điều cơ bản”.

Ngài nói: “Chúng tôi đã nói một chút về phụng vụ, đủ mọi thứ. Nhưng điều quan trọng nhất là quay trở lại với việc truyền giáo cơ bản. Phần tuyệt vời nhất là tất cả chúng tôi đều được nghiên cứu Evangelii Gaudium, một tài liệu rất hay về cách Giáo hội nên truyền giáo”.

“Nó giúp mọi người thực sự hiểu Chúa Giêsu là ai, giải thích những gì Tin Mừng nói về Người và làm thế nào chúng ta có thể biến đời sống Tin Mừng thành đời sống của chính mình. Vì vậy, quay trở lại với sứ mệnh ban đầu của Giáo hội.”

Một số Hồng Y nói với tờ The Pillar rằng họ hài lòng với thể thức được sử dụng cho công nghị năm nay.

Trước đây, các công nghị thường chủ yếu bao gồm các phiên họp toàn thể. Thể thức năm nay bao gồm hai phiên họp toàn thể – với thời gian cho 25 Hồng Y phát biểu trước toàn thể hội đồng – nhưng phần lớn thời gian được dành cho các nhóm nhỏ, tương tự như Thượng Hội đồng về Tính đồng nghị.

Một số Hồng Y ban đầu cho biết họ lo ngại hoặc bối rối về thể thức mới. Nhưng khi rời khỏi Hội trường Paul VI, một số vị nói với tờ The Pillar rằng các vị tin rằng điều đó cuối cùng đã tạo điều kiện cho những cuộc trò chuyện dài hơn, sâu sắc hơn.

Đức Hồng Y Anders Arbolerius của Stockholm nói: “Điều đó rất tốt vì chúng tôi xích lại gần nhau hơn và học cách nói chuyện cùng nhau. Chúng tôi đến từ những nơi khác nhau trên thế giới nên đó là một điều tốt”.

Đức HY Napier nói thêm: “Tôi rất vui, rất nhiều. Chúng tôi đã nói về tính đồng nghị, nhưng được chứng kiến nó trong thực tế lại là một chuyện hoàn toàn khác”.

Đức Hồng Y Cristóbal López Romero của Rabat, Morocco, cho biết ngài tin rằng thể thức năm nay hiệu quả hơn nhiều so với thể thức trước đây.

“Tất cả mọi người đều có thể tham gia, nó không giống như một cuộc họp mà chỉ có khoảng 20 hoặc 30 người nói và những người còn lại lắng nghe. Vì vậy, mọi thứ tạo điều kiện cho sự tham gia của tất cả [các Hồng Y] và lắng nghe tất cả các quan điểm khác nhau luôn là điều tích cực.”

Khi được hỏi liệu phụng vụ có được đề cập nổi bật trong cuộc thảo luận năm nay hay không, một số Hồng Y nói với tờ The Pillar rằng đó không phải là trọng tâm chính – nhưng các vị hy vọng nó sẽ được đề cập lại trong tương lai.

Ban đầu, Đức Giáo Hoàng Leo đã nêu ra bốn chủ đề để thảo luận tại công nghị: Tính đồng nghị, phụng vụ, cải cách Giáo triều và tông huấn Evangelii Gaudium của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, cả bốn chủ đề đều không được thảo luận kỹ lưỡng tại cuộc họp này. Tính đồng nghị và văn kiện Evangelii Gaudium được chọn làm trọng tâm chính cho cuộc họp này, còn các chủ đề khác sẽ được thảo luận trong tương lai.

Đức HY López Romero nói thêm: “Chúng tôi vẫn nói về phụng vụ và cải cách Giáo triều, chúng có liên quan đến các vấn đề khác, vì vậy tôi không nghĩ chúng sẽ bị bỏ qua, chúng sẽ được xem xét”.

Đức HY Arbolerius nhận xét: “Vẫn còn nhiều câu hỏi mà chúng tôi phải giải quyết”.

Nhưng đó là một bầu không khí rất tốt. Trọng tâm là mang Chúa Kitô đến thế giới… và giúp Giáo hội trở thành một Giáo hội truyền giáo.”
 
Trong bối cảnh thế giới bất ổn, Đức Giáo Hoàng nói hòa bình vẫn là điều thực tiễn
Vũ Văn An
16:50 09/01/2026

Photo by Handout / VATICAN MEDIA / AFP


Kathleen N. Hattrup, trong bản tin ngày 09/01/2026 của Aleteia, tường trình: Theo truyền thống hàng năm, Đức Giáo Hoàng Leo đã có bài phát biểu đầu tiên trước đoàn ngoại giao được công nhận tại Tòa Thánh: 184 quốc gia có quan hệ với Vatican.

“Chiến tranh đang trở lại thịnh hành và lòng nhiệt thành chiến tranh đang lan rộng,” Đức Giáo Hoàng Leo XIV cảnh báo trong bài phát biểu đầu tiên trước các nhà ngoại giao được công nhận tại Tòa Thánh, đại diện của 184 quốc gia có quan hệ ngoại giao với quốc gia nhỏ nhất thế giới.

Ngài nhấn mạnh: Nhưng hòa bình vẫn là một “điều tốt đẹp, khó khăn nhưng thực tiễn”.

Cuộc gặp gỡ thường niên với nhóm các nhà ngoại giao đông đảo này diễn ra vào khoảng dịp năm mới. Đức Giáo Hoàng Leo đã nói chuyện với nhóm đa ngôn ngữ bằng tiếng Anh, ngôn ngữ mẹ đẻ của ngài.

Hàng năm, đây là một trong những bài phát biểu dài nhất và phức tạp nhất mà Người kế vị Thánh Phêrô sẽ đọc.

Đây là bài phát biểu "về tình hình hoàn cầu", được trình bày với cái nhìn sâu sắc độc đáo mà một vị Giáo hoàng có được, dựa trên thông tin nội bộ thu thập được từ các đại diện của ngài trên khắp thế giới, cũng như từ các nam nữ tu sĩ và các giám đốc của mạng lưới từ thiện rộng lớn của Giáo hội tại hầu hết mọi nơi trên thế giới.

Vị Giáo hoàng dòng Thánh Augustinô đã dựa vào luận thuyết nổi tiếng của Thánh Augustinô về Hai Thành phố - thành phố của Thiên Chúa và thành phố của thế gian - cho bài phát biểu đầu tiên của ngài trước các nhà ngoại giao.

Trong khi Đức Giáo Hoàng Leo dựa trên Thánh Augustinô cho hầu hết mọi bài phát biểu trước các tín hữu, bài phát biểu này trước các dân tộc đại diện cho tất cả các tôn giáo cho thấy sự kính trọng của ngài đối với Thánh Augustinô như một tiếng nói mang lại cái nhìn sâu sắc cho toàn thể nhân loại.

Một trong những điều quan trọng mà ngài đề cập là tầm quan trọng của ngôn ngữ. Ngài nói rằng: "Việc tái khám phá ý nghĩa của từ ngữ có lẽ là một trong những thách thức hàng đầu của thời đại chúng ta."

Về khía cạnh này, ngài cảnh báo rằng từ ngữ không nên mất đi "mối liên hệ với thực tại, và chính thực tại trở nên gây tranh cãi và cuối cùng là không thể truyền đạt được."

Dưới đây là một suy gẫm của Thánh Augustinô, một suy gẫm kết luận rằng "một người sẽ dễ dàng trò chuyện với con chó của mình hơn là với người nước ngoài!"

Đức Thánh Cha đã đề cập đến một số xung đột cụ thể, bắt đầu với Ukraine và Đất Thánh, nhưng sau đó nhanh chóng chuyển sang Venezuela, trước khi đề cập đến tình hình ở châu Phi và Đông Á.

Hòa bình

Đức Leo nói: "theo cách nói nổi tiếng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, chúng ta không phải đang ở trong một kỷ nguyên thay đổi mà là trong một sự thay đổi kỷ nguyên".

Ngài than thở rằng "nguyên tắc được thiết lập sau Thế chiến thứ hai, cấm các quốc gia sử dụng vũ lực để xâm phạm biên giới của các quốc gia khác, đã bị phá vỡ hoàn toàn". Và ngài nói rằng hòa bình hiện được tìm kiếm "thông qua vũ khí như một điều kiện để khẳng định quyền thống trị của mình."

Nhưng về phương diện này, ngài đã trích dẫn dài dòng một nhận định của Thánh Augustinô:

Hơn nữa, như Thánh Augustinô đã lưu ý, "không ai không muốn có hòa bình. Bởi vì ngay cả những người gây chiến cũng chỉ mong muốn chiến thắng; nghĩa là, họ mong muốn đạt được hòa bình trong vinh quang. Bởi vì chiến thắng chẳng phải là chinh phục những kẻ chống lại chúng ta sao? Và khi điều này được thực hiện thì sẽ có hòa bình… bởi vì ngay cả những người cố tình phá vỡ nền hòa bình mà họ đang sống cũng không ghét hòa bình, mà chỉ muốn nó được thay đổi thành một nền hòa bình phù hợp hơn với họ. Do đó, họ không muốn không có hòa bình, mà chỉ muốn có nền hòa bình mà họ mong muốn."

Ngài cũng nói về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc chế tạo vũ khí ngày càng tinh vi hơn.

Luật nhân đạo

Đức Giáo Hoàng Leo nhấn mạnh rằng việc tuân thủ luật nhân đạo quốc tế không thể "chỉ dựa vào hoàn cảnh và lợi ích quân sự hoặc chiến lược."

Chúng ta không thể phớt lờ việc phá hủy các bệnh viện, cơ sở hạ tầng năng lượng, nhà cửa và những nơi thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày là một sự vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế. Tòa Thánh tái khẳng định sự lên án của mình đối với bất cứ hình thức can thiệp nào của thường dân vào các hoạt động quân sự. Tòa Thánh cũng hy vọng rằng cộng đồng quốc tế sẽ nhớ rằng việc bảo vệ nguyên tắc bất khả xâm phạm phẩm giá con người và sự thánh thiêng của sự sống luôn quan trọng hơn bất cứ lợi ích quốc gia nào.

Thách thức chính

Đức Giáo Hoàng Leo lập luận: "Việc tìm lại ý nghĩa của ngôn từ có lẽ là một trong những thách thức chính của thời đại chúng ta".

Khi ngôn từ mất đi mối liên hệ với thực tại, thì chính thực tại trở nên gây tranh cãi và cuối cùng là không thể truyền đạt, chúng ta trở nên giống như hai người mà Thánh Augustinô nhắc đến, những người buộc phải ở bên nhau mà không ai biết ngôn ngữ của người kia. Ngài nhận xét rằng, “Ngay cả những động vật không biết nói, thậm chí là những loài khác nhau, cũng hiểu nhau dễ dàng hơn hai cá thể này. Bởi vì mặc dù cả hai đều là con người, nhưng bản chất chung của họ không giúp ích gì cho tình bạn khi họ bị ngăn cách bởi sự khác biệt về loài người.” Sự thiếu hụt ngôn ngữ trong việc truyền đạt cảm xúc của họ cho nhau; đến nỗi một người đàn ông sẽ dễ dàng trò chuyện với con chó của mình hơn là với một người nước ngoài!”

Trong bối cảnh này, ngài nói: "Ngôn ngữ ngày càng trở thành một vũ khí để lừa dối, hoặc để tấn công và xúc phạm đối thủ." "Chúng ta cần ngôn từ một lần nữa để diễn đạt những thực tại rõ ràng và rành mạch một cách dứt khoát," ngài nói thêm rằng đây không chỉ là thách thức đối với quan hệ quốc tế, mà còn cả trong chính gia đình chúng ta và trên mạng xã hội.

Đức Leo chỉ ra "nghịch lý mà sự suy yếu của ngôn ngữ này thường được viện dẫn nhân danh chính tự do ngôn luận."

Tuy nhiên, khi xem xét kỹ hơn, điều ngược lại mới đúng, bởi vì tự do ngôn luận và phát biểu được bảo đảm chính bởi sự chắc chắn của ngôn ngữ và sự kiện mỗi thuật ngữ đều dựa trên sự thật. Thật đau lòng khi thấy không gian cho tự do ngôn luận đích thực đang bị thu hẹp nhanh chóng, đặc biệt ở phương Tây. Đồng thời, một loại ngôn ngữ kiểu Orwell mới đang phát triển, trong nỗ lực ngày càng bao hàm, lại dẫn đến việc loại trừ những người không phù hợp với các hệ tư tưởng đang thúc đẩy nó.

Trong bối cảnh này, tự do lương tâm bị hạn chế. Ngài đặc biệt lưu ý đến hoàn cảnh của các bác sĩ và chuyên gia chăm sóc sức khỏe, những người từ chối tham gia vào các hoạt động như phá thai hoặc Cái chết êm ái.

Ngài nói: "Phản đối lương tâm không phải là nổi loạn, mà là hành động trung thành với chính mình. Vào thời điểm này trong lịch sử, tự do lương tâm dường như ngày càng bị các quốc gia đặt câu hỏi, ngay cả những quốc gia tuyên bố dựa trên nền dân chủ và nhân quyền."

Tự do tôn giáo

Đức Thánh Cha đã dành sự quan tâm sâu sắc đến tự do tôn giáo như là "quyền con người đầu tiên trong tất cả các quyền, bởi vì nó thể hiện thực tế cơ bản nhất của con người". Ngài lưu ý rằng nghiên cứu gần đây cho thấy "64% dân số thế giới phải chịu những vi phạm nghiêm trọng về quyền này."

Khi yêu cầu tự do tôn giáo và việc thờ phượng của các Kitô hữu được tôn trọng đầy đủ, Tòa Thánh cũng yêu cầu điều tương tự đối với tất cả các cộng đồng tôn giáo khác.

Việc bức hại Kitô hữu nói riêng "vẫn là một trong những cuộc khủng hoảng nhân quyền lan rộng nhất hiện nay, ảnh hưởng đến hơn 380 triệu tín đồ trên toàn thế giới."

Đáng buồn thay, tất cả điều này cho thấy rằng tự do tôn giáo trong nhiều bối cảnh được coi là một “Đặc quyền” hay sự nhượng bộ hơn là một quyền cơ bản của con người.

Về phương diện này, ngài đã đề cập đến Bangladesh, khu vực Sahel và Nigeria, cũng như các vụ tấn công khủng bố nghiêm trọng hồi tháng Sáu năm ngoái vào giáo xứ Thánh Elias ở Damascus và Cabo Delgado, Mozambique.

Về châu Âu và châu Mỹ, ngài nói:

Đồng thời, chúng ta không được quên một hình thức phân biệt đối xử tôn giáo tinh vi đối với người Kitô hữu, đang lan rộng ngay cả ở những quốc gia nơi họ chiếm đa số, như ở châu Âu hay châu Mỹ. Ở đó, đôi khi họ bị hạn chế khả năng rao giảng chân lý Tin Mừng vì lý do chính trị hoặc tư tưởng, đặc biệt là khi họ bảo vệ phẩm giá của những người yếu thế nhất, thai nhi, người tị nạn và người di cư, hoặc cổ vũ gia đình.

Phẩm giá của mỗi người, bao gồm cả người di cư

Đức Giáo Hoàng nói: "Trong các mối quan hệ và hành động quốc tế của mình, Tòa Thánh luôn kiên định bảo vệ phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người".

Ngài nhấn mạnh về phương diện này rằng "mỗi người di cư là một con người và, với tư cách đó, có những quyền bất khả xâm phạm phải được tôn trọng trong mọi hoàn cảnh."

Tôi xin nhắc lại niềm hy vọng của Tòa Thánh rằng các hành động của các quốc gia chống lại tội phạm và buôn người sẽ không trở thành cái cớ để làm suy yếu phẩm giá của người di cư và người tị nạn.

Ngài nói về những thách thức đối với gia đình, cho rằng gia đình phải đối diện với hai thách thức: sự bị gạt ra ngoài lề trong các hệ thống quốc tế, và vấn đề về các gia đình dễ bị tổn thương và tan vỡ.

Thiên chức yêu thương và hướng đến sự sống, thể hiện một cách quan trọng trong sự kết hợp độc nhất và không thể chia lìa giữa một người đàn bà và một người đàn ông, hàm chứa một mệnh lệnh đạo đức cơ bản để cho phép các gia đình chào đón và chăm sóc trọn vẹn sự sống chưa sinh. Điều này ngày càng trở thành ưu tiên, đặc biệt là ở những quốc gia đang trải qua sự suy giảm mạnh về tỷ lệ sinh. Trên thực tế, sự sống là một món quà vô giá được phát triển trong một mối quan hệ gắn bó dựa trên sự cho đi và phục vụ lẫn nhau.

Quyền con người bị đoản mạch

Đức Giáo Hoàng lên tiếng phản đối phá thai, mang thai hộ, an tử và vấn nạn nghiện ngập đang ngày càng gia tăng.

Ngài nói: "Những cân nhắc nêu trên khiến tôi tin rằng, trong bối cảnh hiện tại, chúng ta đang chứng kiến một 'sự đoản mạch' thực sự của quyền con người".

Quyền tự do ngôn luận, tự do lương tâm, tự do tôn giáo và thậm chí cả Quyền sống đang bị hạn chế nhân danh các quyền được gọi là "quyền mới", dẫn đến việc chính khuôn khổ nhân quyền đang mất đi sức sống và tạo điều kiện cho bạo lực và áp bức. Điều này xảy ra khi mỗi quyền trở nên tự quy chiếu, và đặc biệt là khi nó bị tách rời khỏi thực tại, tự nhiên và sự thật.

Niềm hy vọng

Đức Giáo Hoàng nói: "Bất chấp tình hình bi thảm trước mắt, hòa bình vẫn là một điều tốt đẹp, khó đạt được nhưng thực tiễn".

Đức Giáo Hoàng Leo nhấn mạnh: "Nếu nhìn kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy không thiếu những dấu hiệu của niềm hy vọng can đảm trong thời đại chúng ta".

Và ngài kết luận bằng cách kêu gọi noi theo tấm gương của Thánh Phanxicô Assisi.

Tháng Mười sắp tới sẽ đánh dấu 800 năm ngày mất của Thánh Phanxicô Assisi, một người của hòa bình và đối thoại, được công nhận rộng rãi ngay cả bởi những người không thuộc Giáo Hội Công Giáo. Cuộc đời của ngài tỏa sáng rực rỡ, bởi vì nó được truyền cảm hứng bởi lòng can đảm sống trong chân lý, và nhận thức rằng một thế giới hòa bình được xây dựng bắt đầu từ những trái tim khiêm nhường hướng về thành phố thiên quốc.

Một trái tim khiêm nhường và yêu chuộng hòa bình là điều tôi mong muốn cho mỗi chúng ta và cho tất cả những người sống trong đất nước chúng ta vào đầu năm mới này.
 
Nguyên văn Bài phát biểu của Đức Giáo Hoàng Leo XIV Trước các thành viên Đoàn Ngoại giao được công nhận tại Tòa Thánh
Vũ Văn An
18:52 09/01/2026

Theo tin Tòa Thánh, tại Hội trường Ban Phước, Thứ Sáu, ngày 9 tháng 1 năm 2026, Đức Leo XIV đã gặp gỡ các đại diện của 186 quốc gia có quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh. Nhân dịp này, ngài đã có bài diễn văn sau đây, theo bản dịch tiếng Anh của Tòa Thánh:

Vatican Media


Kính thưa Đức Hồng Y,
Kính thưa các vị Giám mục,
Kính thưa các thành viên đáng kính của Đoàn Ngoại giao,
Kính thưa quý bà và quý ông
,

Tôi xin được cảm ơn Ngài Đại sứ George Poulides, Trưởng Đoàn Ngoại giao, về những lời lẽ tốt đẹp và kính trọng thay mặt quý vị. Tôi chào mừng tất cả quý vị đến với cuộc gặp gỡ này để trao đổi lời chúc mừng đầu năm mới.

Đây là một dịp truyền thống trong đời sống của Đoàn Ngoại giao được công nhận tại Tòa Thánh; nhưng đây là một trải nghiệm mới đối với tôi, vì chỉ vài tháng trước tôi mới được kêu gọi chăn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô. Tôi rất vui mừng được chào đón quý vị sáng nay, và tôi biết ơn sự tham gia nhiệt tình của quý vị, năm nay được làm phong phú thêm bởi sự hiện diện của các Trưởng phái đoàn thường trú mới của Kazakhstan, Burundi và Belarus. Tôi cảm ơn các Chính quyền tương ứng về quyết định mở các cơ quan đại diện ngoại giao tại Tòa Thánh ở Rome. Đây là một dấu hiệu hữu hình của mối quan hệ song phương tốt đẹp và hiệu quả. Qua mỗi vị, thưa các Đại sứ thân mến, tôi muốn gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến đất nước của quý vị, và chia sẻ một vài suy nghĩ về thời đại chúng ta, một thời đại đang bị xáo trộn bởi ngày càng nhiều căng thẳng và xung đột.

Năm vừa qua đã chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng, bắt đầu với những sự kiện ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của Giáo hội, khi Giáo hội trải qua một Năm Thánh trọng đại, và chứng kiến sự trở về nhà Cha của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Cả thế giới đã quy tụ quanh linh cữu của ngài vào ngày tang lễ, và cảm nhận sự mất mát của một người cha đã dẫn dắt dân Chúa với lòng bác ái mục vụ bao la.

Cách đây vài ngày, chúng tôi đã đóng cánh cửa thánh cuối cùng, cửa Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, cánh cửa mà chính Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã mở vào đêm Giáng sinh năm 2024. Trong Năm Thánh, hàng triệu người hành hương đã đổ về Rome để thực hiện cuộc hành hương nhân dịp Năm Thánh. Mỗi người mang theo những trải nghiệm, câu hỏi và niềm vui, cũng như nỗi đau và vết thương của riêng mình, để bước qua các Cánh cửa Thánh, vốn là biểu tượng của chính Chúa Kitô, vị thầy thuốc trên trời của chúng ta. Bằng cách đến trong xác thịt, Người đã mang lấy thân phận con người của chúng ta để cho chúng ta được dự phần vào sự sống thiêng liêng của Người, như chúng ta đã suy niệm trong lễ Giáng sinh vừa qua. Tôi tin chắc rằng, qua những trải nghiệm này, nhiều người đã có thể làm sâu sắc thêm hoặc tái khám phá mối quan hệ của họ với Chúa Giêsu, tìm thấy sự an ủi và niềm hy vọng mới để đối diện với những thách thức của cuộc sống.

Tại đây, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt của mình đối với người dân Rome, những người với lòng kiên nhẫn và hiếu khách tuyệt vời đã chào đón rất nhiều người hành hương và khách du lịch đến thành phố từ khắp nơi trên thế giới. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đến Chính phủ Ý, Chính quyền Capitoline và lực lượng cảnh sát, những người đã làm việc nhiệt tình và chính xác để đảm bảo Rome có thể đón tiếp tất cả du khách, và các biến cố Năm Thánh, cũng như các biến cố sau khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô qua đời, có thể diễn ra một cách an toàn và hòa bình.

Tòa Thánh và Ý không chỉ có sự gần gũi về địa lý, mà trên hết là một lịch sử lâu đời về đức tin và văn hóa gắn kết Giáo hội với bán đảo xinh đẹp này và người dân nơi đây. Điều này cũng được phản ảnh trong mối quan hệ song phương tuyệt vời, được củng cố trong năm nay bằng việc sửa đổi Hiệp định về Hỗ trợ Tinh thần cho Lực lượng Vũ trang, cho phép hỗ trợ tinh thần hiệu quả hơn cho những người phục vụ trong Lực lượng Vũ trang tại Ý và trong nhiều phái bộ ở nước ngoài. Cũng có việc ký kết Hiệp định về nhà máy điện mặt trời nông nghiệp tại Santa Maria di Galeria, cho phép cung cấp điện cho Thành phố Vatican bằng các nguồn năng lượng tái tạo, qua đó khẳng định cam kết chung của chúng ta trong việc chăm sóc tạo thế. Tôi cũng rất biết ơn những chuyến thăm mà tôi nhận được từ các quan chức cấp cao của Chính phủ vào đầu nhiệm kỳ Giáo hoàng của mình và sự hiếu khách tuyệt vời mà tôi nhận được tại Cung điện Quirinale từ Tổng thống Cộng hòa, người mà tôi muốn gửi lời chào thân ái và trân trọng.

Trong năm qua, sau khi tiếp nhận lời mời Đức Giáo Hoàng Phanxicô, tôi đã có niềm vui được đến thăm Thổ Nhĩ Kỳ và Lebanon. Tôi biết ơn chính quyền của cả hai nước vì sự đón tiếp nồng hậu. Tại İznik, Thổ Nhĩ Kỳ, cùng với Đức Thượng phụ Đại kết Constantinople và các đại diện của các giáo phái Kitô giáo khác, tôi đã kỷ niệm 1700 năm ngày thành lập Công đồng Đại kết đầu tiên. Đây là một cơ hội quan trọng để đổi mới cam kết của chúng ta trên con đường hướng tới sự thống nhất hữu hình trọn vẹn của tất cả các Kitô hữu. Tại Lebanon, tôi đã gặp một dân tộc, bất chấp những khó khăn, vẫn tràn đầy đức tin và nhiệt huyết. Tại đó, tôi cảm nhận được niềm hy vọng của những người trẻ tuổi khao khát xây dựng một xã hội công bằng và gắn kết hơn, và củng cố mối liên kết giữa các nền văn hóa và tôn giáo, điều đã làm nên nét độc đáo của vùng đất tuyết tùng này trên thế giới.

Các Đại sứ thân mến,

Được thúc đẩy bởi những sự kiện bi thảm của cuộc cướp phá thành Rome năm 410 sau Công nguyên, Thánh Augustinô đã viết De Civitate Dei, Thành phố của Thiên Chúa. Đây là một trong những tác phẩm thần học, triết học và văn học mạnh mẽ nhất của ngài. Như Giáo hoàng Benedict XVI đã nhận xét, đó là một “tác phẩm ấn tượng, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của tư tưởng chính trị phương Tây và thần học lịch sử Kitô giáo.” [1] Như chúng ta nói theo thuật ngữ đương thời, nó dựa vào một “trình thuật” đang lan rộng, vì “những người ngoại đạo, vẫn còn đông đảo vào thời điểm đó, và thậm chí khá nhiều Kitô hữu, nghĩ rằng Thiên Chúa của tôn giáo mới và chính các Tông đồ đã tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ thành phố. Vào thời các vị thần ngoại đạo, Rome là caput mundi, kinh đô thế giới, kinh đô vĩ đại, và không ai có thể tưởng tượng rằng nó sẽ rơi vào tay kẻ thù. Giờ đây, với Thiên Chúa của Kitô hữu, thành phố vĩ đại này dường như không còn an toàn nữa.” [2]

Chắc chắn, thời đại của chúng ta rất xa những sự kiện đó. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề khoảng cách thời gian, mà còn là vấn đề nhận thức văn hóa khác nhau và sự phát triển của các phạm trù tư duy. Tuy nhiên, chúng ta không thể bỏ qua sự kiện những cảm nhận văn hóa của chính chúng ta đã được nuôi dưỡng từ tác phẩm đó, một tác phẩm mà, giống như tất cả các tác phẩm kinh điển, đều hướng đến con người của mọi thế hệ.

Thánh Augustinô diễn giải các sự kiện và chính lịch sử theo mô hình hai thành phố. Thứ nhất, đó là thành phố của Thiên Chúa, vốn vĩnh cửu và được đặc trưng bởi tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa (amor Dei), cũng như tình yêu thương tha nhân, đặc biệt là người nghèo. Sau đó là thành phố trần gian, là nơi cư ngụ tạm thời của con người cho đến khi chết. Ngày nay, thành phố này bao gồm tất cả các định chế xã hội và chính trị, từ gia đình đến quốc gia và các tổ chức quốc tế. Đối với Thánh Augustinô, thành phố này được thể hiện rõ nét nhất qua Đế quốc La Mã. Thật vậy, thành phố trần gian tập trung vào sự kiêu ngạo và lòng tự ái (amor sui), vào khát vọng quyền lực và vinh quang thế gian dẫn đến sự hủy diệt. Tuy nhiên, đây không phải là cách đọc lịch sử nhằm đối lập giữa cõi vĩnh hằng và hiện tại, giữa Giáo hội và Nhà nước, cũng không phải là một cuộc tranh luận về vai trò của tôn giáo trong xã hội dân sự.

Theo quan điểm của Thánh Augustinô, hai thành phố cùng tồn tại cho đến tận cùng thời gian. Mỗi thành phố đều có cả chiều kích bên ngoài và bên trong, bởi vì chúng không chỉ được hiểu qua cách thức bên ngoài mà chúng được xây dựng trong suốt lịch sử, mà còn qua lăng kính thái độ nội tâm của mỗi con người đối với thực tại cuộc sống và các sự kiện lịch sử. Theo quan điểm này, mỗi chúng ta đều là nhân vật chính và do đó chịu trách nhiệm về lịch sử. Hơn nữa, Thánh Augustinô nhấn mạnh rằng các Kitô hữu được Thiên Chúa kêu gọi sống trong thành phố trần gian với tấm lòng và trí óc hướng về thành phố thiên đường, quê hương đích thực của họ. Đồng thời, các Kitô hữu sống trong thành phố trần gian không xa lạ với thế giới chính trị, và, được hướng dẫn bởi Kinh Thánh, tìm cách áp dụng đạo đức Kitô giáo vào chính quyền dân sự.

Thành phố của Thiên Chúa không đề xuất một chương trình chính trị. Thay vào đó, nó đưa ra những suy gẫm quý giá về các vấn đề cơ bản liên quan đến đời sống xã hội và chính trị, chẳng hạn như việc tìm kiếm một sự chung sống công bằng và hòa bình hơn giữa các dân tộc. Thánh Augustinô cũng cảnh báo về những nguy hiểm nghiêm trọng đối với đời sống chính trị phát sinh từ những sự xuyên tạc lịch sử, chủ nghĩa dân tộc thái quá và sự bóp méo lý tưởng về nhà lãnh đạo chính trị.

Mặc dù bối cảnh chúng ta đang sống ngày nay khác với thế kỷ thứ năm, nhưng một số điểm tương đồng vẫn rất phù hợp. Chúng ta hiện đang, cũng như khi đó, trong một kỷ nguyên của các phong trào di cư rộng khắp; cũng như khi đó, chúng ta đang sống trong thời kỳ điều chỉnh sâu xa sự cân bằng địa chính trị và mô hình văn hóa; cũng như khi đó, chúng ta, theo cách diễn đạt nổi tiếng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, không phải trong một kỷ nguyên thay đổi mà là trong một sự thay đổi kỷ nguyên. [3]

Trong thời đại của chúng ta, sự yếu kém của chủ nghĩa đa phương là một nguyên nhân đáng lo ngại đặc biệt ở bình diện quốc tế. Một nền ngoại giao thúc đẩy đối thoại và tìm kiếm sự đồng thuận giữa tất cả các bên đang bị thay thế bởi một nền ngoại giao dựa trên vũ lực, bởi các cá nhân hoặc các nhóm đồng minh. Chiến tranh đang trở lại thịnh hành và lòng nhiệt thành chiến tranh đang lan rộng. Nguyên tắc được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cấm các quốc gia sử dụng vũ lực để xâm phạm biên giới của các quốc gia khác, đã bị phá vỡ hoàn toàn. Hòa bình không còn được tìm kiếm như một món quà và một điều tốt đẹp đáng mong muốn tự nó, hoặc trong việc theo đuổi “việc thiết lập vũ trụ có trật tự theo ý muốn của Thiên Chúa, với một hình thức công lý hoàn hảo hơn giữa nam giới và nữ giới.” [4] Thay vào đó, hòa bình được tìm kiếm thông qua vũ khí như một điều kiện để khẳng định quyền thống trị của mình. Điều này đe dọa nghiêm trọng đến pháp quyền, vốn là nền tảng của mọi sự chung sống hòa bình.

Hơn nữa, như Thánh Augustinô đã lưu ý, “không ai không muốn có hòa bình. Bởi vì ngay cả những người gây chiến cũng chỉ mong muốn chiến thắng; nghĩa là, họ mong muốn đạt được hòa bình với vinh quang. Bởi vì chiến thắng chẳng phải là chinh phục những kẻ chống lại chúng ta sao? Và khi điều này được thực hiện thì sẽ có hòa bình.” … bởi vì ngay cả những người cố tình phá vỡ sự bình yên mà họ đang sống cũng không hề ghét bỏ hòa bình, mà chỉ mong muốn nó biến thành một nền hòa bình phù hợp hơn với họ. Do đó, họ không muốn không có hòa bình, mà chỉ muốn có nền hòa bình mà họ mong muốn.” [5]

Chính thái độ này đã dẫn nhân loại đến thảm kịch của Chiến tranh Thế giới thứ hai. Từ đống tro tàn đó, Liên Hợp Quốc ra đời, tổ chức vừa mới kỷ niệm 80 năm thành lập. Liên Hợp Quốc được thành lập bởi quyết tâm của 51 quốc gia với tư cách là trung tâm hợp tác đa phương nhằm ngăn chặn các thảm họa toàn cầu trong tương lai, bảo vệ hòa bình, bảo vệ các quyền cơ bản của con người và thúc đẩy phát triển bền vững.

Tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của luật nhân đạo quốc tế. Việc tuân thủ luật này không thể chỉ dựa vào hoàn cảnh và lợi ích quân sự hoặc chiến lược. Luật nhân đạo, ngoài việc đảm bảo mức độ nhân đạo tối thiểu trong thời kỳ tàn phá của chiến tranh, còn là một cam kết mà các quốc gia đã thực hiện. Luật này phải luôn luôn chiếm ưu thế hơn tham vọng của các bên tham chiến, nhằm giảm thiểu những tác động tàn phá của chiến tranh, cũng như hướng tới tái thiết. Chúng ta không thể bỏ qua việc phá hủy các bệnh viện, cơ sở hạ tầng năng lượng, nhà cửa và những nơi thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày cấu thành một sự vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế. Tòa Thánh kiên quyết tái khẳng định sự lên án của mình đối với bất cứ hình thức can thiệp nào của thường dân vào các hoạt động quân sự. Tòa Thánh cũng hy vọng rằng cộng đồng quốc tế sẽ ghi nhớ việc bảo vệ nguyên tắc bất khả xâm phạm. Phẩm giá con người và sự thánh thiêng của sự sống luôn quan trọng hơn bất cứ lợi ích quốc gia nào.

Với suy nghĩ đó, Liên Hợp Quốc đã làm trung gian hòa giải các xung đột, thúc đẩy phát triển và giúp các quốc gia bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản. Trong một thế giới đang đối diện với những thách thức phức tạp như căng thẳng địa chính trị, bất bình đẳng và khủng hoảng khí hậu, Liên Hợp Quốc cần đóng vai trò chủ chốt trong việc thúc đẩy đối thoại và hỗ trợ nhân đạo, giúp xây dựng một tương lai công bằng hơn. Do đó, cần nỗ lực để đảm bảo rằng Liên Hợp Quốc không chỉ phản ảnh tình hình thế giới hiện nay chứ không phải thời kỳ hậu chiến, mà còn tập trung và hiệu quả hơn trong việc theo đuổi các chính sách hướng tới sự thống nhất của nhân loại thay vì các hệ tư tưởng.

Mục đích của chủ nghĩa đa phương, do đó, là cung cấp một nơi để mọi người có thể gặp gỡ và trò chuyện, mô phỏng theo diễn đàn La Mã cổ thời hoặc quảng trường thời trung cổ. Đồng thời, để tham gia đối thoại, cần phải có sự đồng thuận về các từ ngữ và khái niệm được sử dụng. Việc khám phá lại ý nghĩa của từ ngữ có lẽ là một trong những thách thức chính của thời đại chúng ta. Khi từ ngữ mất đi mối liên hệ với thực tại, thì chính thực tại trở nên gây tranh cãi và cuối cùng không thể thông truyền, chúng ta trở nên giống như hai người mà Thánh Augustinô nhắc đến, những người buộc phải sống chung với nhau mà không ai biết ngôn ngữ của người kia. Ngài nhận xét rằng, “Ngay cả những loài động vật câm, thậm chí khác loài, cũng hiểu nhau dễ dàng hơn hai người này. Bởi vì mặc dù cả hai đều là con người, nhưng bản chất chung của họ không giúp ích gì cho tình bạn khi sự khác biệt về ngôn ngữ ngăn cản họ truyền đạt cảm xúc của mình cho nhau; vì vậy, một người sẽ dễ dàng trò chuyện với con chó của mình hơn là với một người nước ngoài!” [6]

Ngày nay, ý nghĩa của từ ngữ ngày càng trở nên linh hoạt, và các khái niệm mà chúng đại diện ngày càng mơ hồ. Ngôn ngữ không còn là phương tiện ưa thích để con người biết và gặp gỡ nhau. Hơn nữa, trong sự biến dạng của sự mơ hồ về ngữ nghĩa, ngôn ngữ ngày càng trở thành một vũ khí để lừa dối, hoặc để tấn công và xúc phạm đối thủ. Chúng ta cần ngôn từ một lần nữa để diễn đạt những thực tại rõ ràng và riêng biệt một cách dứt khoát. Chỉ bằng cách này, đối thoại đích thực mới có thể tiếp tục mà không có sự hiểu lầm. Điều này nên xảy ra trong gia đình và không gian công cộng của chúng ta, trong chính trị, trên các phương tiện truyền thông và trên mạng xã hội. Nó cũng nên xảy ra trong bối cảnh quan hệ quốc tế và chủ nghĩa đa phương, để chủ nghĩa đa phương có thể lấy lại sức mạnh cần thiết để thực hiện vai trò gặp gỡ và hòa giải của mình. Điều này thực sự cần thiết để ngăn ngừa xung đột và đảm bảo rằng không ai bị cám dỗ để áp đặt lên người khác bằng tư duy vũ lực, dù là bằng lời nói, thể chất hay quân sự.

Chúng ta cũng nên lưu ý nghịch lý mà sự suy yếu của ngôn ngữ này thường được viện dẫn nhân danh chính quyền tự do ngôn luận. Tuy nhiên, khi xem xét kỹ hơn, điều ngược lại mới đúng, bởi vì quyền tự do ngôn luận và phát biểu được đảm bảo chính là nhờ sự chắc chắn của ngôn ngữ và thực tế là mỗi thuật ngữ đều dựa trên sự thật. Thật đau lòng khi chứng kiến không gian dành cho tự do ngôn luận đích thực đang thu hẹp nhanh chóng, đặc biệt ở phương Tây. Đồng thời, một thứ ngôn ngữ kiểu Orwell mới đang phát triển, trong nỗ lực trở nên bao dung hơn, lại dẫn đến việc loại trừ những người không phù hợp với các hệ tư tưởng đang thúc đẩy nó.

Thật không may, điều này dẫn đến những hậu quả khác, cuối cùng hạn chế các quyền cơ bản của con người, bắt đầu từ quyền tự do lương tâm. Về phương diện này, phản đối lương tâm cho phép các cá nhân từ chối các nghĩa vụ pháp lý hoặc nghề nghiệp mâu thuẫn với các nguyên tắc đạo đức, luân lý hoặc tôn giáo ăn sâu trong cuộc sống bản thân của họ. Đó có thể là việc từ chối nghĩa vụ quân sự nhân danh bất bạo động, hoặc việc các bác sĩ và chuyên gia chăm sóc sức khỏe từ chối tham gia vào các hoạt động như phá thai hoặc an tử. Phản đối lương tâm không phải là nổi loạn, mà là một hành động trung thành với chính mình. Vào thời điểm này trong lịch sử, quyền tự do lương tâm dường như ngày càng bị các quốc gia nghi vấn, ngay cả những quốc gia tuyên bố dựa trên nền dân chủ và nhân quyền. Tuy nhiên, quyền tự do này thiết lập sự cân bằng giữa lợi ích tập thể và phẩm giá cá nhân. Nó cũng nhấn mạnh rằng một xã hội thực sự tự do không áp đặt sự độc dạng mà bảo vệ sự đa dạng của lương tâm, ngăn chặn các khuynh hướng độc đoán và thúc đẩy một cuộc đối thoại đạo đức làm phong phú thêm cấu trúc xã hội.

Tương tự như vậy, quyền tự do tôn giáo cũng có nguy cơ bị hạn chế. Như Đức Benedict XVI đã nhắc lại, đây là quyền con người đầu tiên, bởi vì nó thể hiện thực tại cơ bản nhất của con người. [7] Dữ liệu gần đây nhất cho thấy các vi phạm tự do tôn giáo đang gia tăng, và 64% dân số thế giới phải chịu những vi phạm nghiêm trọng về quyền này.

Khi yêu cầu tự do tôn giáo và việc thờ phượng của người Kitô hữu được tôn trọng đầy đủ, Tòa Thánh cũng yêu cầu điều tương tự đối với tất cả các cộng đồng tôn giáo khác. Nhân kỷ niệm 60 năm ngày ban hành Tuyên bố Nostra Aetate, một trong những thành quả của Công đồng Vatican II kết thúc vào ngày 8 tháng 12 năm 1965, tôi đã có cơ hội nhắc lại sự bác bỏ dứt khoát mọi hình thức bài Do Thái, điều đáng tiếc là vẫn tiếp tục gieo rắc hận thù và cái chết. Tôi cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vun đắp đối thoại Do Thái-Kitô giáo, làm sâu sắc thêm những gốc rễ Kinh Thánh chung của chúng ta.

Cũng trong dịp kỷ niệm đó, cuộc gặp gỡ với các đại diện của các tôn giáo khác đã cho phép tôi làm mới sự đánh giá của mình về những tiến bộ đã đạt được trong những thập niên gần đây trên con đường đối thoại liên tôn. Thật vậy, trong mỗi cuộc tìm kiếm tôn giáo chân thành đều có “sự phản chiếu của Mầu nhiệm Thần thiêng duy nhất bao trùm toàn bộ tạo vật”. [8] Về khía cạnh này, tôi yêu cầu tất cả các quốc gia đảm bảo tự do tôn giáo và thờ phượng đầy đủ cho mỗi công dân của họ.

Tuy nhiên, không thể bỏ qua rằng việc bức hại Kitô hữu vẫn là một trong những cuộc khủng hoảng nhân quyền lan rộng nhất hiện nay, ảnh hưởng đến hơn 380 triệu tín đồ trên toàn thế giới. Họ phải chịu đựng mức độ phân biệt đối xử, bạo lực và áp bức cao hoặc cực đoan vì đức tin của mình. Hiện tượng này ảnh hưởng đến khoảng một phần bảy Kitô hữu trên toàn thế giới, và nó đã trở nên tồi tệ hơn vào năm 2025 do các cuộc xung đột đang diễn ra, các chế độ độc tài và chủ nghĩa cực đoan tôn giáo. Đáng buồn thay, tất cả điều này cho thấy tự do tôn giáo trong nhiều bối cảnh được coi là một “đặc quyền” hoặc sự nhượng bộ hơn là một quyền cơ bản của con người.

Ở đây, tôi đặc biệt muốn nhắc đến nhiều nạn nhân của bạo lực, bao gồm cả bạo lực do động cơ tôn giáo ở Bangladesh, ở vùng Sahel và ở Nigeria, cũng như những nạn nhân của vụ tấn công khủng bố nghiêm trọng hồi tháng Sáu năm ngoái vào giáo xứ Saint Elias ở Damascus. Tôi cũng không quên các nạn nhân của bạo lực thánh chiến ở Cabo Delgado, Mozambique.

Đồng thời, chúng ta không được quên một hình thức phân biệt đối xử tôn giáo tinh vi đối với người Kitô hữu, đang lan rộng ngay cả ở những quốc gia nơi họ chiếm đa số, như ở châu Âu hay châu Mỹ. Ở đó, đôi khi họ bị hạn chế khả năng rao giảng chân lý của Tin Mừng vì lý do chính trị hoặc tư tưởng, đặc biệt là khi họ bảo vệ phẩm giá của những người yếu thế nhất, thai nhi, người tị nạn và người di cư, hoặc thúc đẩy gia đình.

Trong quan hệ và hành động quốc tế của mình, Tòa Thánh luôn kiên định bảo vệ phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người. Chẳng hạn, không thể bỏ qua việc mỗi người di cư là một con người và, với tư cách đó, có những quyền bất khả xâm phạm cần được tôn trọng trong mọi hoàn cảnh. Không phải tất cả người di cư đều di chuyển theo ý muốn, nhưng nhiều người buộc phải chạy trốn vì bạo lực, đàn áp, xung đột và thậm chí cả ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, như ở nhiều nơi tại châu Phi và châu Á. Trong năm nay, cũng là năm kỷ niệm 75 năm thành lập Tổ chức Di cư Quốc tế, tôi xin nhắc lại hy vọng của Tòa Thánh rằng những hành động của các quốc gia chống lại tội phạm và buôn người sẽ không trở thành cái cớ để làm suy yếu phẩm giá của người di cư và người tị nạn.

Những cân nhắc tương tự cũng áp dụng cho các tù nhân, những người không bao giờ có thể bị giản lược chỉ còn là những tội ác mà họ đã gây ra. Nhân dịp này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đối với các Chính phủ đã hưởng ứng tích cực lời kêu gọi của vị Tiền nhiệm đáng kính của tôi về những cử chỉ khoan dung trong Năm Thánh. Tôi hy vọng rằng tinh thần của Năm Thánh sẽ truyền cảm hứng lâu dài và mang tính cấu trúc cho việc quản lý công lý, để các hình phạt tương xứng với tội ác đã gây ra, điều kiện sống xứng đáng được đảm bảo cho tù nhân, và trên hết, nỗ lực được thực hiện để bãi bỏ án tử hình, một biện pháp phá hủy mọi hy vọng về sự tha thứ và đổi mới. [9] Chúng ta cũng không thể quên nỗi đau khổ của rất nhiều tù nhân bị giam giữ vì lý do chính trị ở nhiều quốc gia.

Hơn nữa, từ quan điểm Kitô giáo, con người được tạo ra theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa, Đấng “bằng cách gọi họ vào sự hiện hữu bởi tình yêu thương, đồng thời cũng kêu gọi họ yêu thương”. [10] Ơn gọi này được thể hiện một cách đặc biệt và độc đáo trong gia đình. Chính trong bối cảnh này mà chúng ta học cách yêu thương và nuôi dưỡng khả năng phục vụ sự sống, do đó góp phần vào sự phát triển của xã hội và sứ mệnh của Giáo hội.

Mặc dù có vai trò trung tâm, thể chế gia đình ngày nay phải đối diện với hai thách thức quan trọng. Một mặt, có một xu hướng đáng lo ngại trong hệ thống quốc tế là bỏ qua và đánh giá thấp vai trò xã hội cơ bản của nó, dẫn đến việc nó bị gạt ra ngoài lề về mặt định chế một cách ngày càng gia tăng. Mặt khác, chúng ta không thể phớt lờ thực trạng ngày càng gia tăng và đau lòng về những gia đình mong manh, tan vỡ và đau khổ, bị ảnh hưởng bởi những khó khăn nội bộ và các hiện tượng đáng lo ngại, bao gồm cả bạo lực gia đình.

Thiên chức yêu thương và bảo vệ sự sống, thể hiện một cách quan trọng trong sự kết hợp độc nhất vô nhị và bất khả phân ly giữa người đàn bà và người đàn ông, hàm chứa một mệnh lệnh đạo đức cơ bản để giúp các gia đình đón nhận và chăm sóc trọn vẹn sự sống chưa chào đời. Điều này ngày càng trở thành ưu tiên, đặc biệt là ở những quốc gia đang trải qua sự suy giảm mạnh mẽ về sinh suất. Trên thực tế, sự sống là một món quà vô giá được phát triển trong một mối quan hệ gắn bó dựa trên sự cho đi và phục vụ lẫn nhau.

Trước tầm nhìn sâu sắc này về sự sống như một món quà cần được trân trọng, và về gia đình như người bảo vệ có trách nhiệm của nó, chúng tôi kiên quyết bác bỏ bất cứ hành vi nào phủ nhận hoặc lợi dụng nguồn gốc của sự sống và sự phát triển của nó. Trong số đó có phá thai, hành vi cắt ngắn một sinh linh đang lớn lên và từ chối đón nhận món quà sự sống. Về vấn đề này, Tòa Thánh bày tỏ sự quan ngại sâu xa về các dự án nhằm tài trợ cho việc di chuyển xuyên biên giới với mục đích tiếp cận điều gọi là “quyền phá thai an toàn”. Nó cũng cho rằng việc phân bổ nguồn lực công để kìm hãm sự sống, thay vì đầu tư hỗ trợ các bà mẹ và gia đình, là điều đáng tiếc. Mục tiêu hàng đầu phải là bảo vệ mọi thai nhi và hỗ trợ hiệu quả, cụ thể cho mọi phụ nữ để họ có thể đón nhận sự sống.

Tương tự, có cả vấn đề mang thai hộ. Bằng cách biến việc mang thai thành một dịch vụ có thể thương lượng, điều này vi phạm phẩm giá của cả đứa trẻ, khi bị hạ thấp xuống thành một “sản phẩm”, và của người mẹ, khi bóc lột cơ thể và quá trình sinh sản của bà, và làm sai lệch sứ mệnh quan hệ ban đầu của gia đình.

Những cân nhắc tương tự cũng có thể được mở rộng đến người bệnh, người già hoặc những người bị cô lập, những người đôi khi phải vật lộn để tìm lý do tiếp tục sống. Xã hội dân sự và Nhà nước cũng có trách nhiệm đáp ứng một cách cụ thể đối với những tình huống dễ bị tổn thương, đưa ra các giải pháp cho nỗi đau khổ của con người, chẳng hạn như chăm sóc giảm nhẹ, và thúc đẩy các chính sách liên đới đích thực, thay vì khuyến khích các hình thức cảm thương giả tạo như an tử.

Một suy nghĩ tương tự cũng có thể được đưa ra liên quan đến nhiều người trẻ tuổi buộc phải đối diện với vô số khó khăn, bao gồm cả nghiện ma túy. Để ngăn chặn hàng triệu thanh thiếu niên trên toàn thế giới trở thành nạn nhân của lạm dụng chất gây nghiện, cần có những nỗ lực phối hợp để xóa bỏ tai họa này đối với nhân loại và nạn buôn bán ma túy – nguyên nhân chính gây ra nó. Cùng với những nỗ lực này, cần có các chính sách phù hợp để hỗ trợ cai nghiện, cũng như đầu tư nhiều hơn vào phát triển con người, giáo dục và tạo ra cơ hội việc làm.

Trước những thách thức này, chúng tôi khẳng định lại một cách chắc chắn rằng việc bảo vệ quyền sống là nền tảng không thể thiếu của mọi quyền con người khác. Một xã hội chỉ lành mạnh và thực sự tiến bộ khi nó bảo vệ sự thánh thiêng của cuộc sống con người và tích cực nỗ lực cổ vũ nó.

Những cân nhắc nêu trên khiến tôi tin rằng, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đang chứng kiến một sự “đoản mạch” nhân quyền thực sự. Quyền tự do ngôn luận, tự do lương tâm, tự do tôn giáo và thậm chí cả quyền sống đang bị hạn chế nhân danh các quyền mới được gọi là khác, dẫn đến việc chính khuôn khổ của quyền con người đang mất đi sức sống và tạo ra khoảng trống cho bạo lực và áp bức. Điều này xảy ra khi mỗi quyền trở nên tự quy chiếu, và đặc biệt là khi nó bị tách rời khỏi thực tại, bản chất và sự thật.

Các Đại sứ đáng kính,

Trong khi Thánh Augustinô nhấn mạnh sự cùng tồn tại của thành phố thiên đường và trần gian cho đến tận cùng thời gian, thì thời đại của chúng ta dường như lại nghiêng về hướng bác bỏ “quyền công dân” riêng của Thành phố của Thiên Chúa. Dường như chỉ có thành phố trần gian tồn tại, khép kín hoàn toàn trong biên giới của nó. Việc chỉ tìm kiếm những điều tốt đẹp nội tại làm suy yếu “sự yên bình của trật tự”, [11] mà theo Augustinô, cấu thành bản chất của hòa bình, liên quan đến xã hội và các quốc gia cũng như chính tâm hồn con người, và là điều thiết yếu cho bất cứ sự chung sống văn minh nào. Trong sự vắng mặt của một nền tảng siêu việt và khách quan, chỉ có lòng tự ái chiếm ưu thế, đến mức thờ ơ với Thiên Chúa, Đấng cai trị thành phố trần gian. [12] Tuy nhiên, như Thánh Augustinô lưu ý, “sự kiêu ngạo thật lớn lao ở những cá nhân nghĩ rằng điều tốt đẹp tối cao có thể được tìm thấy trong cuộc sống này, và rằng họ có thể trở nên hạnh phúc bằng nguồn lực của chính mình.” [13]

Sự kiêu ngạo che khuất cả thực tại và tương cảm của chúng ta đối với người khác. Không phải ngẫu nhiên mà sự kiêu ngạo luôn là gốc rễ của mọi xung đột. Do đó, như tôi đã nhắc lại trong Thông điệp Ngày Hòa bình Thế giới, “chúng ta đánh mất ý thức về tính hiện thực và đầu hàng trước một cái nhìn phiến diện và méo mó về thế giới, bị bóp méo bởi bóng tối và nỗi sợ hãi,” [14] do đó mở đường cho tâm lý đối đầu, vốn là tiền đề của mọi cuộc chiến tranh.

Chúng ta thấy điều này trong nhiều bối cảnh, bắt đầu từ cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine và sự đau khổ mà dân thường phải gánh chịu. Trước tình hình bi thảm này, Tòa Thánh mạnh mẽ nhắc lại nhu cầu cấp thiết về một lệnh ngừng bắn ngay lập tức và một cuộc đối thoại được thúc đẩy bởi sự tìm kiếm chân thành các con đường dẫn đến hòa bình. Tôi khẩn thiết kêu gọi cộng đồng quốc tế không dao động trong cam kết theo đuổi các giải pháp công bằng và lâu dài nhằm bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất và khôi phục hy vọng cho những người bị ảnh hưởng. Tôi cũng nhấn mạnh sự sẵn lòng của Tòa Thánh trong việc hỗ trợ bất cứ sáng kiến nào cổ vũ hòa bình và hòa hợp.

Đồng thời, chúng ta thấy điều này ở Đất Thánh, nơi mà, bất chấp lệnh ngừng bắn được công bố vào tháng 10, dân thường vẫn tiếp tục phải chịu đựng một cuộc khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng, làm tăng thêm đau khổ cho những gì đã trải qua. Tòa Thánh đặc biệt quan tâm đến bất cứ sáng kiến ngoại giao nào nhằm đảm bảo cho người dân Palestine ở Dải Gaza một tương lai hòa bình và công lý lâu dài trên chính mảnh đất của họ, cũng như cho toàn thể người dân Palestine và toàn thể người dân Israel. Đặc biệt, giải pháp hai nhà nước vẫn là triển vọng định chế để đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cả hai dân tộc; tuy nhiên, thật đáng buồn là bạo lực đã gia tăng ở Bờ Tây nhằm vào dân thường Palestine, những người có quyền được sống trong hòa bình trên chính mảnh đất của họ.

Tình trạng căng thẳng leo thang ở Biển Caribe và dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của Mỹ cũng là một nguyên nhân đáng lo ngại. Tôi muốn nhắc lại lời kêu gọi khẩn thiết của tôi rằng cần phải tìm kiếm các giải pháp chính trị hòa bình cho tình hình hiện tại, ghi nhớ lợi ích chung của các dân tộc chứ không phải bảo vệ lợi ích phe phái.

Điều này đặc biệt liên quan đến Venezuela, trong bối cảnh những diễn biến gần đây. Về khía cạnh này, tôi nhắc lại lời kêu gọi tôn trọng ý chí của người dân Venezuela và bảo vệ nhân quyền và quyền công dân của tất cả mọi người, đảm bảo một tương lai ổn định và hòa hợp. Để đạt được mục tiêu này, chúng ta có thể lấy cảm hứng từ tấm gương của hai người con ưu tú mà tôi đã có vinh dự phong thánh vào tháng Mười năm ngoái – José Gregorio Hernández và Sơ Carmen Rendiles. Mong rằng chứng tá của các ngài sẽ truyền cảm hứng cho việc xây dựng một xã hội dựa trên công lý, sự thật, tự do và tình huynh đệ, và nhờ đó giúp quốc gia vượt qua cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đã đeo bám nó trong nhiều năm qua.

Những cuộc khủng hoảng khác đang rải rác trên hoàn cầu. Trước hết, tôi muốn đề cập đến tình hình tuyệt vọng ở Haiti, bị ảnh hưởng bởi nhiều hình thức bạo lực, từ buôn người đến cưỡng bức lưu vong và bắt cóc. Về vấn đề này, tôi hy vọng rằng, với sự hỗ trợ cần thiết và cụ thể của cộng đồng quốc tế, đất nước này sẽ có thể thực hiện các bước cần thiết càng sớm càng tốt để khôi phục trật tự dân chủ, chấm dứt bạo lực và đạt được sự hòa giải và hòa bình.

Chúng ta cũng không thể quên tình hình đã ảnh hưởng đến khu vực Hồ Lớn của châu Phi trong nhiều thập niên, bị tàn phá bởi bạo lực đã cướp đi sinh mạng của nhiều người. Tôi khuyến khích các bên liên quan tìm kiếm một giải pháp dứt khoát, công bằng và lâu dài để chấm dứt cuộc xung đột đã kéo dài quá lâu. Tương tự, tôi nghĩ đến tình hình ở Sudan, nơi đã biến thành một chiến trường rộng lớn, cũng như tình trạng bất ổn chính trị kéo dài ở Nam Sudan, quốc gia trẻ nhất trong cộng đồng các quốc gia, ra đời sau cuộc trưng cầu dân ý cách đây mười lăm năm.

Chúng ta không thể không đề cập đến những dấu hiệu căng thẳng ngày càng gia tăng ở Đông Á, và bày tỏ hy vọng rằng tất cả các bên liên quan sẽ áp dụng cách tiếp cận hòa bình và đối thoại đối với các vấn đề gây tranh cãi, vốn là nguồn gốc của xung đột tiềm tàng.

Tôi đặc biệt quan tâm đến cuộc khủng hoảng nhân đạo và an ninh nghiêm trọng đang hoành hành ở Myanmar, vốn càng trầm trọng hơn do trận động đất tàn phá hồi tháng Ba năm ngoái. Tôi kêu gọi chúng ta hãy dũng cảm lựa chọn con đường hòa bình và đối thoại toàn diện, để đảm bảo mọi người đều được tiếp cận viện trợ nhân đạo một cách công bằng và kịp thời. Để thực sự là các tiến trình dân chủ, chúng phải đi kèm với ý chí chính trị theo đuổi lợi ích chung, tăng cường sự gắn kết xã hội và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân.

Trong cốt lõi của nhiều tình huống tôi đã đề cập, chúng ta có thể thấy điều mà chính Thánh Augustinô đã chỉ ra, đó là ý tưởng dai dẳng rằng hòa bình chỉ có thể đạt được thông qua việc sử dụng vũ lực và răn đe. Trong khi chiến tranh chỉ mang lại sự hủy diệt, hòa bình đòi hỏi những nỗ lực xây dựng liên tục và kiên nhẫn cũng như sự cảnh giác thường trực. Những nỗ lực như vậy cần thiết đối với tất cả mọi người, bắt đầu từ các quốc gia sở hữu kho vũ khí hạt nhân. Tôi đặc biệt nghĩ đến nhu cầu quan trọng là phải tiếp tục thực thi Hiệp ước New START, sẽ hết hạn vào tháng Hai. Thật vậy, có nguy cơ quay trở lại cuộc chạy đua sản xuất các loại vũ khí mới ngày càng tinh vi hơn, kể cả bằng trí tuệ nhân tạo. Trí tuệ nhân tạo là một công cụ đòi hỏi sự quản lý phù hợp và có đạo đức, cùng với các khuôn khổ pháp lý tập trung vào việc bảo vệ tự do và trách nhiệm của con người.

Các Đại sứ thân mến,

Bất chấp tình hình bi thảm trước mắt, hòa bình vẫn là một điều tốt đẹp khó đạt được nhưng thực tiễn. Như Thánh Augustinô nhắc nhở chúng ta, hòa bình là “mục tiêu của điều tốt đẹp của chúng ta”, [15] bởi vì đó chính là mục tiêu của thành phố Thiên Chúa, mà chúng ta khao khát, ngay cả một cách vô thức, và là điều chúng ta có thể nếm trải trước ngay cả trong thành phố trần gian này. Trong cuộc hành trình của chúng ta trên trái đất này, việc kiến tạo hòa bình đòi hỏi sự khiêm nhường và lòng can đảm. Sự khiêm nhường để sống chân thật và lòng can đảm để tha thứ. Trong đời sống Kitô giáo, chúng ta thấy những đức tính này được phản ảnh vào Lễ Giáng Sinh, khi Chân Lý, Ngôi Lời vĩnh hằng của Thiên Chúa, trở thành xác thịt khiêm nhường, và vào Lễ Phục Sinh, khi Đấng Công Chính bị kết án tha thứ cho những kẻ bức hại Người và ban cho họ sự sống của Người như Đấng Phục Sinh.

Hơn nữa, nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, không thiếu những dấu hiệu của niềm hy vọng can đảm trong thời đại chúng ta, và chúng ta phải liên tục ủng hộ chúng. Ví dụ, tôi nghĩ đến Hiệp định Dayton, cách đây ba mươi năm đã chấm dứt cuộc chiến tranh đẫm máu ở Bosnia và Herzegovina. Bất chấp những khó khăn và căng thẳng, những điều đó đã mở ra khả năng về một tương lai thịnh vượng và hài hòa hơn. Tôi cũng nghĩ đến Tuyên bố Hòa bình chung giữa Armenia và Azerbaijan, được ký kết vào tháng 8 năm ngoái. Chúng ta hy vọng điều này sẽ mở đường cho một nền hòa bình công bằng và lâu dài ở Nam Caucasus, và giải quyết các vấn đề còn tồn đọng một cách thỏa đáng cho cả hai bên. Tôi cũng nhắc đến những nỗ lực mà chính quyền Việt Nam đã thực hiện trong những năm gần đây để cải thiện quan hệ với Tòa Thánh và điều kiện hoạt động của Giáo hội trong nước. Tất cả những điều này đều là những hạt giống hòa bình cần được vun trồng.

Tháng Mười sắp tới sẽ đánh dấu 800 năm ngày mất của Thánh Phanxicô Assisi, một người của hòa bình và đối thoại, được công nhận rộng rãi ngay cả bởi những người không thuộc Giáo Hội Công Giáo. Cuộc đời của ngài tỏa sáng rực rỡ, bởi vì nó được truyền cảm hứng bởi lòng can đảm sống trong chân lý, và nhận thức rằng một thế giới hòa bình được xây dựng bắt đầu từ những trái tim khiêm nhường hướng về thành phố thiên đường. Một trái tim khiêm nhường và yêu chuộng hòa bình là điều tôi mong muốn cho mỗi chúng ta và cho tất cả những người đang sinh sống tại đất nước chúng ta vào đầu năm mới này.

Cảm ơn quý vị.

________________________________________________

[1] Bênêđíctô XVI, Giáo lý (20 tháng 2 năm 2008).

[2] Như trên.

[3] Xem Đức Phanxicô, Diễn văn tại Đại hội lần thứ năm của Giáo hội Ý, Florence (10 tháng 11 năm 2015).

[4] Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26/03/1967), 76: AAS 59 (1967), 294-295.

[5] Thánh Augustinô, De Civ. Dei, XIX, 12.1.

[6] Thánh Augustinô, De Civ. Dei, XIX, 7.

[7] Đức Bênêđíctô XVI, Diễn văn với các Thành viên Ngoại giao đoàn, 9 tháng Giêng 2012.

[8] Giáo lý (29 tháng 10 năm 2025).

[9] Xem Đức Phanxicô, Sắc lệnh về Năm Thánh Thường niên 2025 Spes non Confundit (9 tháng 5 năm 2024), 10: AAS 116 (2024), 654-655.

[10] Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio (22/11/1981), 11: AAS 74 (1982), 91.

[11] X. Thánh Augustinô, De Civ. Dei, XIX, 13.

[12] Như trên, XIV, 28.

[13] Như trên, XIX, 4.4.

[14] Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới LIX (8 tháng 12 năm 2025).

[15] Thánh Augustinô, De Civ. Dei, XIX, 11.